Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 vùng dân tộc thiểu số trường Mầm non Lục Sơn

docx 19 trang Thiên Hoa 25/12/2025 121
Bạn đang xem tài liệu "Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 vùng dân tộc thiểu số trường Mầm non Lục Sơn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmot_so_giai_phap_ren_ky_nang_song_cho_tre_tai_lop_mau_giao_5.docx

Nội dung text: Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 vùng dân tộc thiểu số trường Mầm non Lục Sơn

  1. I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn sáng kiến 1.1. Về lý luận - Ông cha ta từ xưa thường có câu nói: “Uốn cây từ thủa còn non - Dạy con từ thủa con còn ngây thơ” Trẻ nhỏ được xem như một trang giấy trắng, nhiệm vụ của mỗi chúng ta là viết lên trang giấy trắng đó những gì thì hình thành lên trang giấy trắng đó những thứ mà ta viết. Trong xã hội hiện nay đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, nhiều vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh. Bên cạnh những tác động tích cực, còn có những tác động tiêu cực, gây suy thái đạo đức của con người, đặc biệt là trẻ em lứa tuổi nhỏ. Nếu không làm tốt việc chăm sóc- giáo dục trẻ trong những năm đầu thì việc giáo dục trẻ của những năm sau sẽ gặp khó khăn và phức tạp hơn. Chính vì vậy, việc rèn kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động dạy học trong trường mầm non cũng là một nội dung rất cần thiết và quan trong đối với lứa tuổi Mầm non. Nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện cho trẻ 5 tuổi, nhất là trẻ em vùng dân tộc thiểu số, thì việc làm này vô cùng cần thiết , đòi hỏi người giáo viên mầm non cần có những hiểu biết nhất định vể tâm sinh lý trẻ, để giáo dục trẻ một cách tốt nhất. 1.2. Về thực tiễn - Trong năm học 2022- 2023 tôi được nhà trường phân công dạy lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 trường Mầm non Lục sơn. Trẻ lớp tôi đa số trẻ là dân tộc thiểu số chưa mạnh dạn, tự tin, khả năng giao tiếp kém. Đa phần trẻ còn thụ động vào cách thực hiện cô nhắc, trẻ chưa có ý thức thực hiện kỹ năng sống của bản thân. - Nhằm thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục phát triển tình cảm kỹ năng xã hội cho trẻ theo nguyên tắc từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhiệm vụ của giáo viên mầm non là phải rèn kỹ năng sống cho trẻ nói chung trẻ 5-6 tuổi nói riêng để tạo mọi tiềm năng tốt nhất cho trẻ giúp trẻ dân tộc thiểu số mạnh dạn, tự tin hơn khi bước vào lớp 1 trường tiểu học. Nên tôi luôn đặt câu hỏi cần cung cấp cho trẻ những gì và rèn cho trẻ những kỹ năng sống như thế nào để đạt được hiệu quả. Chính vì thế mà tôi quyết định chọn sáng kiến "Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 vùng dân tộc thiểu số trường Mầm non Lục Sơn” 2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của sáng kiến 2.1 Phạm vi nghiên cứu - Lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 Trường Mầm non Lục Sơn- Lục Nam- Bắc Giang. - Sáng kiến này được tiến hành nghiên cứu từ tháng 9/2022 đến tháng 4 năm 2023. Và được áp dụng lần đầu tiên tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 trường Mầm non Lục Sơn. - Viết sáng kiến ngày 18 tháng 3 đến 31 tháng 3 năm 2023 - Hoàn thành sáng kiến ngày 10 tháng 4 năm 2023
  2. 2.2 Đối tượng nghiên cứu - Trẻ dân tộc thiểu số tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 trường Mầm non Lục sơn. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Thực trạng của vấn đề mà sáng kiến cần giải quyết - Trong năm học 2022- 2023 tôi được nhà trường phân công dạy lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 trường Mầm non Lục sơn. Trẻ lớp là 25 trẻ trong đó 23/25 trẻ là học sinh dân tộc thiểu số, vào đầu năm học tôi thấy trẻ lớp tôi chưa mạnh dạn, tự tin, khả năng giao tiếp kém. Đa phần trẻ còn thụ động vào cách thực hiện cô nhắc, trẻ chưa có ý thức thực hiện kỹ năng sống của bản thân. 1.1. Ưu điểm - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện cơ sở vật chất đầy đủ thuận lợi cho quá trình thực hiện hoạt động. - Hàng năm được Ban giám hiệu nhà trường bồi dưỡng chuyên môn về rèn kỹ năng sống cho trẻ. - Trẻ lớp tôi đi học chuyên cần, trẻ khỏe mạnh, hứng thú tham gia vào các hoạt động cô dạy. - Bản thân tôi là người địa phương sống ở vùng đặc biệt khó khăn có nhiều dân tộc thiểu số lên cũng phần nào được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Từ đó đưa ra biện pháp rèn kỹ năng cho trẻ được tốt. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 2.1.1.Giáo viên - Hạn chế: Chưa khai thác hết khả năng, kỹ năng sống, ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số. - Nguyên nhân: Bản thân chỉ nghe hiểu được một số từ đơn giản tiếng dân tộc, không nói được tiếng dân tộc. 1.2.2. Học sinh * Hạn chế: Trẻ chưa mạnh dạn, tự tin, khả năng giao tiếp kém, trong các giờ học trẻ còn tiếp thu một cách thụ động. Khả năng nhận thức của trẻ còn hạn chế, còn chưa thực hiện tốt một số kỹ năng: Kỹ năng mạnh dạn tự tin, kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng vệ sinh và kỹ năng thể hiện ý thức của bản thân. Biết một số trường hợp không an toàn và gọi người giúp đỡ, quy tắc ứng sử xã hội. * Nguyên nhân: Trong lớp tôi phụ trách 92% số trẻ trong lớp là học sinh dân tộc thiểu số, trẻ sống ở vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, cha mẹ trẻ là người dân tộc thiểu số ít tiếp cận với những văn minh của xã hội, vốn từ của trẻ chưa phong phú do bất đồng ngôn ngữ, sự khác biệt về văn hóa dân tộc lên ảnh hưởng tới việc rèn kỹ năng sống của trẻ. Đa số trẻ còn nói ngọng, phát âm không chuẩn nên ảnh hưởng tới sự tiếp thu kiến thức của trẻ. 2
  3. 1.2.3. Phụ huynh * Hạn chế. - Phụ huynh là người dân tộc thiểu số lên ít quan tâm đến vấn đề dạy trẻ học nhất là về rèn kỹ năng sống cho trẻ khi trẻ ở nhà, đa số phụ huynh còn thờ ơ và bỏ qua những hành động sai của trẻ nên vô tình hình thành thói quen ở trẻ. * Nguyên nhân. - Phụ huynh chủ yếu đều làm nghề nông, một số thì đi làm công nhân nên không có nhiều thời gian để quan tâm đến việc chăm sóc giáo dục cho con em mình. 1.2.4. Nhà trường - Trường Mầm non Lục sơn là trường miền núi nằm trên địa bàn xã đặc biệt khó khăn, kinh tế địa phương còn nghèo nàn. Về cơ sở vật chất nhà trường còn chưa được đầy đủ để đáp ứng được việc dạy và học của trẻ. * Từ những tồn tại, nguyên nhân, hạn chế trên tôi đã lên kế hoạch, vào đầu tháng 10, tôi đã tiến hành khảo sát trẻ trên lớp để nắm bắt tình hình và có kế hoạch rèn kỹ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi, cụ thể kết quả khảo sát như sau: * Bảng khảo sát trẻ: Tổng số trẻ 25 Khi chưa áp dụng Nội dung khảo sát Đạt Tỉ lệ Chưa Tỉ lệ (%) đạt (%) Kỹ năng thể hiện ý thức của bản 1 thân, quy tắc ứng sử xã hội (Biết cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép. Chú ý lắng nghe. Trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm 9/25 36% 16/25 64% với bạn, biết chờ đến lượt ) Kỹ năng tự bảo vệ bản thân: ( 2 Biết một số trường hợp không an toàn và gọi người giúp đỡ. Nói 6/25 25% 19/25 75% được họ, tên, tuổi, giới tính của bản thân, tên bố, mẹ, địa chỉ nhà hoặc điện thoại) Kỹ năng mạnh dạn tự tin, (Thể 3 hiện sự tự lực tự tin tự làm một 12/25 48% 13/25 62% số việc đơn giản ) Kỹ năng vệ sinh: Có một số 4 hành vi và thói quen trong vệ 9/25 36% 16/25 sinh 64% 3
  4. - Từ kết quả khảo sát tôi thấy kết quả đạt trên trẻ quá thấp, vì vậy tôi đã suy nghĩ nghiên cứu, làm thế nào để đưa ra những giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ đạt được kết quả cao hơn. Và tôi đã mạnh dạn đưa ra và sử dụng các giải pháp sau để rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp tôi phụ trách. 2. Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 vùng dân tộc thiểu số trường Mầm non Lục Sơn. 2.1. Giải pháp 1: Tổ chức các hoạt động rèn kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động có chủ đích. 2.1.1. Nội dung - Thể hiện ý thức của bản thân: + Biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn + Nói được tên, tuổi, giới tính của bản thân, tên bố, mẹ, địa chỉ nhà, số điện thoại + Biết chú ý lắng nghe khi cô, bạn nói, không ngắt lời người khác biết chờ đến lượt. + Nói được mình có điểm gì giống và khác các bạn (Thể hiện sự tự tin) 2.1.2. Cách thức, quá trình thực hiện giải pháp. - Trước đây, với những nội dung rèn kỹ năng sống cho trẻ tôi thường với những lời dặn dò nhắc nhở, giáo dục cuối giờ học đơn giản thông qua nội dung các bài thơ, câu chuyện, bài hát... Với cách giáo dục như vậy tôi thấy kết quả trên trẻ chưa đạt hiệu quả. Trẻ ghi nhớ một cách thụ động, và thường chóng quên. Khi tôi áp dụng đưa giải pháp sử dụng tình huống kết hợp với trải nghiệm thực tế trong giờ học hứng thú tham gia, khắc sâu kiến thức hơn. *Ví dụ 1: Khi tổ chức hoạt động giáo dục âm nhạc thông qua trò chơi âm nhạc tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Hát theo tranh” tôi đưa ra tình huống 3 bức tranh, trẻ chơi theo 3 đội, khi tôi đưa ra bức tranh trẻ sẽ phải cùng nhau thảo luận để tìm ra bài hát phù hợp với nội dung trong bức tranh của cô. Sau đó cả đội sẽ cùng hát bài hát phù hợp với bức tranh có hình ảnh cô đưa ra. (Hình ảnh trẻ thảo luận nhóm) (Hình ảnh trẻ hát theo nhóm) 4
  5. - Như vậy tôi thấy trẻ lớp tôi đã biết cách hoạt động theo nhóm, có tinh thần hợp tác, trao đổi thảo luận với nhau và cùng nhau tìm ra đáp án về bài hát, cùng nhau hát lại bài hát. Thông qua hoạt động này trẻ vừa được hoạt động nhóm. Trẻ biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn. *Ví dụ 2: Hoạt động khám phá xã hội “Gia đình của bé” - Trước khi thực hiện hoạt động này, tôi đã nhờ phụ huynh đưa lên nhóm zalo của lớp hình ảnh về gia đình mình. Khi vào hoạt động học, tôi đưa ra tình huống các bức ảnh trên ti vi cho cả lớp xem cho trẻ nhận biết về gia đình mình. Sau đó tôi cho trẻ kể về gia đình, tên bố mẹ, số điện thoại, địa chỉ nhà ở Bằng những bức hình đó tôi nhận thấy những trẻ lên kể rất vui vẻ, rất tự hào khi kể cho cô giáo và các bạn nghe về những thành viên trong gia đình mình. Nói được họ, tên, tuổi, giới tính của bản thân, tên bố, mẹ, địa chỉ nhà hoặc điện thoại. Biết mình vị trí của mình trong gia đình, biết vầng lời giúp đỡ bố mẹ. Hình ảnh hoạt động khám phá xã hội “Gia đình của bé” * Ví dụ 3: Hoạt động khám phá khoa học: Tôi là ai? (chủ đề Bản thân) - Khi tổ chức hoạt động này, tôi mời từng trẻ tự lên giới thiệu về tên, tuổi, giới tính, học lớp nào, trường nào, cô giáo nào, sở thích của mình, điểm giống và khác nhau giữ mình với bạn. Tôi nhận thấy, trẻ rất hào hứng lên giới thiệu. Trẻ mạnh dạn, tự tin đã nói được đầy đủ những thông tin tôi đưa ra. Tôi luôn chú ý đến những trẻ nhút nhát, thiếu tự tin gọi trẻ nói và động viên khuyến khích trẻ. Trẻ đứng dậy kể được thông tin của mình. Đối với trẻ vùng dân tộc thiểu số về khả năng mạnh dạn tự tin trong giao tiếp còn rất hạn chế. Nếu như cô không gọi đến những trẻ nhút nhát thì có lẽ 5
  6. những trẻ đó sẽ chẳng bao giờ dám làm một việc gì trước đám đông Hình ảnh: Trẻ tự giới thiệu về bản thân 2.1.3 Kết quả thực hiện và áp dụng giải pháp * Kết quả so sánh đối chứng sau khi thực hiện: Tổng số trẻ 25 Trước khi áp Sau khi áp Tỷ lệ Nội dung dụng dụng tăng STT ( Thể hiện ý thức của bản thân) Đạt Tỷ lệ(%) Đạt Tỷ lệ Tỷ lệ (%) (%) 1 Nói được tên, tuổi, giới tính của bản thân, tên bố, 5/25 20 25/25 100 80 mẹ, địa chỉ nhà, số điện thoại 2 Biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh 7/25 28 25/25 100 72 nghiệm với bạn. 3 Biết chú ý lắng nghe khi cô, bạn nói, không ngắt lời 8/25 32 25/25 100 68 người khác biết chờ đến lượt. 4 Thể hiện sự tự tin, nói được mình có điểm gì giống và 7/25 28 25/25 khác các bạn. 100 72 6
  7. - Trong giải pháp này kỹ năng sống trẻ học được là: Giao tiếp cởi mở với bạn, lắng nghe bạn nói và chờ đến lượt bạn nói, biết cảm ơn, xin lỗi Trẻ nhớ số điện thoại của bố mẹ, nhớ tên ông bà, cha mẹ, biết được địa chỉ nhà mình, trẻ biết được mình có điểm gì giống và khác các bạn (dáng vẻ bên ngoài, giới tính, sở thích và khả năng) .trẻ có cơ hội chia sẻ về bản thân với các bạn. Mặt khác cũng giúp trẻ mạnh dạn tự tin, khi thể hiện khả năng của mình trước cô giáo và các bạn trong lớp. Biết nói rõ ràng, mạch lạc để bạn hiểu. 2.2 Giải pháp 2: Rèn kỹ năng sống cho trẻ thông qua tình huống và trải nghiệm. 2.2.1 Nội dung. - Kỹ năng tự bảo vệ bản thân: + Bảo vệ bản thân khi bị thất lạc (Biết được địa chỉ nơi ở, số điện thoại gia đình, người thân và khi bị lạc biết hỏi, gọi người lớn) + Biết một số trường hợp không an toàn và gọi người giúp đỡ ( không nhận quà của người lạ, biết kêu cứu khi gặp nguy hiểm) 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng giải pháp. - Có rất nhiều tình huống xảy ra có thể đe dọa đến sự an toàn bản thân của trẻ, vì thế trẻ cần hiểu được trong tình huống nào phải làm gì để tránh sự nguy hiểm. Tôi đã đưa ra nhiều tình huống cụ thể, chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, tôi hướng dẫn phân tích, giải thích và cùng trẻ tìm ra cách giải quyết tốt nhất. Với tình huống tôi đưa vào thành tiết học của hoạt động chiều. Và sau mỗi tình huống tôi cho trẻ trải nghiệm luôn với tình huống đó để cho trẻ thêm khắc sâu kiến thức để bảo vệ bản thân. * Ví dụ tình huống thứ nhất: Tôi cho trẻ xem trên video một em bé bị lạc bố mẹ khi đi siêu thị. Hình ảnh mô tả video trẻ bị thất lạc 7
  8. - Tôi cho trẻ suy nghĩ, mỗi trẻ sẽ đưa ra cách giải quyết của riêng trẻ. Gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi: Theo con con phải làm gì khi bị lạc? Tạo sao? Sau đó tôi giúp trẻ rút ra phương án tối ưu nhất. Hình ảnh trẻ thảo luận đưa ra cách giải quyết - Khi bị lạc con hãy bình tĩnh, không khóc hay la hét và chạy lung tung mà hãy đứng yên một chỗ chờ. Vì bố, mẹ sẽ có thể quay lại chỗ đó để tìm. Hoặc nhờ bảo vệ, cô bán hàng để giúp đỡ gọi điện thoại, hoặc thông báo lên loa để tìm bố mẹ. Tuyệt đối không đi theo người lạ dù người đó có hứa sẽ đưa về với bố mẹ, vì có thể đó là người xấu lợi dụng và sẽ bắt cóc con. - Tôi cho trẻ trong lớp đóng kịch tình huống đi chơi bị lạc khóc sau đó cho trẻ một trẻ đến hỏi và tìm cách giải quyết. Hình ảnh trẻ đóng kịch trải nghiệm với tình huống 8
  9. * Ví dụ tình huống thứ hai: Tôi cho trẻ đi chơi trên sân trường, nhờ một cô giáo đóng vai người lạ cho con bánh, kẹo và rủ con đi chơi. Hình ảnh chụp từ đoạn video tình huống - Sau đó tôi cho trẻ suy nghĩ, cho trẻ đưa ra ý kiến của mình, gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi. - Tiếp theo phân tích, giải thích cho trẻ và giúp trẻ có phương án giải quyết đó là: biết cách từ chối những món quà mà người lạ cho nhưng vẫn thể hiện sự lễ phép, ngoan ngoãn “Cháu cám ơn, nhưng bố mẹ cháu không cho nhận quà của người lạ ạ!”. - Tôi đặt giả thiết tình huống nếu con từ chối nhưng họ vẫn một mực dúi quà vào tay con và có ý lôi kéo con thì lúc đó con làm gì? Với giả thiết này trẻ lớp tôi đã trả lời: “Có phản ứng thật nhanh như hét to, cấu thật mạnh vào tay người lạ và chạy nhanh đến người thân gần đó hoặc chỗ đông người” - Với tình huống đó, hôm sau khi trẻ đang chơi trong lớp tôi nhờ một phụ huynh đóng vai người lạ đến cho quà và rủ đi chơi. Thông qua tình huống đó trẻ sẽ 9
  10. được ứng phó với tình huống theo sự hiểu biết của bản thân, từ đó giúp trẻ khắc sâu hơn những kinh nghiệm mà trẻ có được. Hình ảnh clip tình huống 2.2.3 Kết quả thực hiện, áp dụng giải pháp. * Kết quả so sánh đối chứng sau khi thực hiện: Tổng số trẻ 25 Trước khi áp Sau khi áp Tỷ lệ Nội dung dụng dụng tăng STT Kỹ năng tự bảo vệ bản thân Đạt Tỷ lệ(%) Đạt Tỷ lệ Tỷ lệ (%) (%) 1 Bảo vệ bản thân khi bị thất lạc (Biết được địa chỉ nơi ở, số điện thoại gia 6/25 24 25/25 100 76 đình, người thân và khi bị lạc biết hỏi, gọi người lớn) 2 Biết một số trường hợp không an toàn và gọi người giúp đỡ ( không 5/25 20 25/25 100 80 nhận quà của người lạ, biết kêu cứu khi gặp nguy hiểm) 10
  11. 2.3. Biện pháp 3: Cô làm gương kết hợp hành động dạy trẻ từ ý thức thành kỹ năng. 2.3.1 Nội dung. - Hành vi quy tắc ứng sử xã hội ( Biết cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép, biết quan tâm đến môi trường) 2.3.2 Cách thức, quá trình thực hiện áp dụng giải pháp * Với giải pháp cũ tôi dạy trẻ khi nhìn thấy giác tôi nhắc nhở trẻ như: “Con hãy nhặt giác bỏ vào thùng giác” hay “Con xin lỗi bạn đi” “Con chào cô chưa? Cả lớp mình chào cô nào” Với giải pháp này tôi chỉ nhắc trẻ hành động. Nhưng để những hành động đó trở thành ý thức và từ ý thúc chở thành kỹ năng thì tôi đã đưa giải pháp cô làm gương kết hợp với hành động để cho trẻ thực hiện và noi theo. - Cũng tình huống trên: Tôi nhặt lá cây bỏ vào thùng rác và hỏi trẻ:“con biết tại sao cô bỏ lá cây vào thùng rác không?” sau đó tôi giải thích cho trẻ hiểu, việc làm này nhằm giữ gìn môi trường sạch đẹp cho các con học và chơi. Lần sau thấy rác trẻ sẽ tự động nhặt rác vì trẻ hiểu rằng: nhặt rác là giữ cho môi trường sạch đẹp. 11
  12. Hình ảnh trẻ nhặt rác ở sân trường - Hay trong tình huống khi trẻ đến lớp chưa chào cô tôi khoanh tay vào và nói “Cô chào con” Như vậy sau trẻ cũng sẽ khoanh tay vào nói “Con chào cô” Khi cha mẹ trẻ về tôi nói “Em chào chị” Từ đó trẻ biết khoanh tay vào nói “Con chào mẹ” Hình ảnh trẻ chào cô, chào mẹ khi đến lớp 2.2.3 Kết quả thực hiện, áp dụng giải pháp. - Với giải pháp “Làm gương kết hợp hành động” hàng ngày tôi sử dụng để rèn kỹ năng sống cho trẻ trẻ lớp tôi 100% số trẻ trong lớp đã chuyển từ những hành động sang ý thức và từ ý thức đó thành kỹ năng hàng ngày như: Làm sai biết xin lỗi, nhận quà biết cảm ơn, khi gặp người lớn tuổi hơn mình biết chào hỏi, khi đến lớp biết chào cô, chào các bạn . Thấy giác biết tự nhặt giác vào thùng, thấy vòi nước chảy biết tự tắt, ra khỏi phòng học biết tự tắt tivi, quạt, đến giờ ăn biết tự kê bàn ghế Từ đó chở thành kỹ năng hàng ngày cho trẻ mà không cần cô nhắc nhở. Trước khi áp Sau khi áp Tỷ lệ Nội dung dụng dụng tăng Hành vi quy tắc ứng sử xã hội Đạt Tỷ lệ(%) Đạt Tỷ lệ Tỷ lệ (%) (%) Biết cảm ơn, xin lỗi, chào 100 68 hỏi lễ phép, 8/25 32 25/25 Biết quan tâm đến môi trường 8/25 32 25/25 100 68 12
  13. 2.4. Giải pháp 4: Tuyên truyền phối hợp với phụ huynh học sinh trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ 2.4.1 Nội dung - Kỹ năng vệ sinh: Có một số hành vi và thói quen trong vệ sinh, (Kỹ năng rửa tay, rửa mặt, đánh răng) 2.4.2 Cách thức, quá trình thực hiện giải pháp. - Trong buổi họp phụ huynh đầu năm và giờ đón trả trẻ hằng ngày, tôi thường trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của việc hình thành kỹ năng sống đối với trẻ. Tôi trao đổi với phụ huynh hằng ngày về sự tiến bộ của mỗi trẻ để phụ huynh kịp thời nắm bắt kịp thời để cùng giáo dục trẻ. Hình ảnh họp phụ huynh và trao đổi với phụ huynh trong giờ đón trả trẻ - Tôi đã lập nhóm zalo của lớp thường xuyên trao đổi về các hoạt động hàng ngày của trẻ ở trường, lớp. Đặc biệt là tuyên truyền các phụ huynh hướng dẫn các con về việc cho trẻ thực hiện các kỹ năng sống như: Kỹ năng thể hiện ý thức của bản thân, quy tắc ứng sử xã hội, kỹ năng mạnh dạn tự tin, kỹ năng vệ sinh, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng bảo vệ bản thân Các bậc phụ huynh có thể trao đổi bất cứ băn khoăn gì của mình về trẻ với cô giáo để tìm cách làm hiệu quả nhất cho trẻ. Tôi trực tiếp làm video hướng dẫn trực tiếp trẻ, cách rửa tay, rửa mặt, đánh răng đúng quy trình, tôi gửi những bài viết tuyên truyền về phòng chống dịch, về cách chăm sóc giáo dục trẻ cho phụ huynh qua nhóm zalo của lớp. - Qua công tác phối kết hợp như vậy phụ huynh lớp tôi đã lắm chắc các kỹ năng và các cách chăm sóc sức khỏe cho con, cách vệ sinh, rửa tay, rửa mặt, đánh răng cho trẻ hàng ngày. Biết cách dạy con các kỹ năng sống khi ở nhà. Phụ huynh rất yên tâm tin tưởng và luôn sẵn sàng kết hợp để rèn kỹ năng sống cho trẻ một cách tốt nhất. 13
  14. Hình ảnh học sinh thực hiện vệ sinh khi ở nhà 2.4.3 Kết quả thực hiện, áp dụng giải pháp. * Kết quả so sánh đối chứng sau khi thực hiện: Tổng số trẻ 25 Trước khi áp Sau khi áp Tỷ dụng dụng lệ Nội dung tăng STT Kỹ năng vệ sinh Đạt Tỷ lệ(%) Đạt Tỷ lệ Tỷ (%) lệ (%) 1 Kỹ năng đánh răng 60 10/25 40 25/25 100 2 Kỹ năng rửa tay 100 56 11/25 44 25/25 3 Kỹ năng rửa mặt 12/25 48 25/25 100 52 14
  15. 3. Khả năng áp dụng của sáng kiến - Với sáng kiến này tôi nghiên cứu từ tháng 9 năm 2022 đến thảng 3 năm 2023 và cũng là lần đầu tiên tôi đưa vào áp dụng tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 cho học sinh dân tộc thiểu số tại lớp tôi phụ trách đạt hiệu quả rất cao. Trong năm học 2023- 2024 có thể áp dụng cho khối mẫu giáo 5 tuổi trường mầm non Lục Sơn và có thể áp dụng được trong các trường trong trong huyện có cùng điều kiện thuận lợi khó khăn như trường tôi. * Điều kiện khi áp dụng sáng kiến - Thứ nhất, để rèn kỹ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi ở vùng biệt khó khăn cần phải xác định được mục đích, lắm được đặc điểm tâm sinh lý, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc hình thành các kỹ năng sống cho trẻ. - Thứ hai, giáo viên cần phải là người có kỹ năng sống tốt và luôn là tấm gương sáng cho trẻ noi theo. - Thứ ba, giáo viên phải có trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, tích cực trau dồi, học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao trình độ chuyên môn, làm phong phú vốn sống và vốn hiểu biết của mình về nhiều lĩnh vực và biết mềm dẻo vận dụng vào thực tế, phải yêu nghề, mến trẻ, có sự quan tâm đến từng cá nhân trẻ. - Thứ tư, cần có mối liên hệ mật thiết giữa gia đình – nhà trường – xã hội cùng chung tay giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 4. Hiệu quả dự kiến có thể thu được khi áp dụng sáng kiến *Hiệu quả xã hội: - Sau thời gian từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023 tôi áp dụng “Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 vùng dân tộc thiểu số trường Mầm non Lục Sơn” Tôi nhận thấy những giải pháp trên rất có hiệu quả, học sinh lớp tôi có chuyển biến rất rõ rệt. Phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đối với trẻ vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Trẻ lớp tôi có sự chuyển biến rõ rệt về việc hình thành các kỹ năng sống: Kỹ năng tự bảo vệ bản thân , kỹ năng thể hiện sự tự lực tự tin tự làm một số việc đơn giản hàng ngày, kỹ năng ứng sử xã hội “Biết cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép. Chú ý lắng nghe. Trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn, biết chờ đến lượt, mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. Có một số hành vi và thói quen trong vệ sinh hàng ngày. Phát triển những phẩm chất tốt đẹp như: Tính kiên trì thực hiện nhiệm vụ được giao, tính trung thực, biết nhường nhịn, biết cư xử đẹp khi thắng thua. - Trong khoảng thời gian áp dụng giải pháp giường như trẻ dân tộc thiểu số lớp tôi thay đổi hoàn toàn về mặt nhận thức, giao tiếp, kỹ năng xã hội của trẻ được nâng lên một tầm cao mới, trẻ trở thành một con người hoàn toàn tự tin , đủ điều kiện để bước vào lớp 1 một cách tự tin nhất. - Trẻ tự tin tham gia vào các hoạt động của trường lớp và thành công lớn nhất của tôi là ” Đã đưa hành động vào trong ý thức và từ ý thức đó chở thành kỹ năng 15
  16. hàng ngày của trẻ” và những kỹ năng sống đó sẽ phát triển bền vững và theo trẻ đến suốt cuộc đời. * Kết quả so sánh đối chứng sau khi thực hiện: Tổng số trẻ 25 Trước khi áp Sau khi áp Tỷ dụng dụng lệ tăng STT Nội dung Đạt Tỷ Đạt Tỷ lệ Tỷ lệ(%) (%) lệ (%) Kỹ năng thể hiện ý thức của bản thân: Nói được tên, tuổi, giới tính của bản thân, tên 1 bố, mẹ, địa chỉ nhà, số điện thoại. Biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh 9/25 36% 25/25 100 64 nghiệm với bạn. Biết chú ý lắng nghe khi cô, bạn nói, không ngắt lời người khác biết chờ đến lượt. 2 Kỹ năng tự bảo vệ bản thân: Bảo vệ bản thân khi bị thất. Biết một số trường hợp 6/25 25% 25/25 không an toàn và gọi người 100 75 giúp đỡ, không nhận quà của người lạ. 3 Kỹ năng ứng sử: Biết cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép, Biết quan tâm đến môi 12/25 48% 25/25 100 52 trường. 4 Kỹ năng vệ sinh: Có một số hành vi và thói quen trong vệ 9/25 36% 25/25 sinh, rửa mặt, rửa tay, đánh răng 100 64 16
  17. III. KẾT LUẬN 1.Ý nghĩa của sáng kiến - Rèn kỹ năng sống cho trẻ là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Điều đó giúp cho trẻ tự tin, chủ động xử lý linh hoạt các tình huống trong cuộc sống, trẻ được bắt đầu làm quen với các kỹ năng như giao tiếp, thích nghi, khám phá thế giới xung quanh, kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng tạo niềm vui, tự bảo mình, kỹ năng làm việc nhóm, và kỹ năng tự quyết một số tình huống phù hợp với lứa tuổi. Vì vậy, rèn kỹ năng sống cho trẻ trong trường mầm non có một ý nghĩa rất lớn trong sự hình thành con người của trẻ sau này. - Sáng kiến” Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 vùng dân tộc thiểu số trường Mầm non Lục Sơn” đã nâng cao được số lượng, chất lượng trẻ có kỹ năng tự bảo vệ bản thân , kỹ năng thể hiện sự tự lực tự tin tự làm một số việc đơn giản hàng ngày, kỹ năng ứng sử xã hội “Biết cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép. Chú ý lắng nghe. Trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn, biết chờ đến lượt, mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. Có một số hành vi và thói quen trong vệ sinh hàng ngày. Phát triển những phẩm chất tốt đẹp như: Tính kiên trì thực hiện nhiệm vụ được giao, tính trung thực, biết nhường nhịn, biết cư xử văn minh khi thắng thua. - Trong khoảng thời gian áp dụng giải pháp giường như trẻ dân tộc thiểu số lớp tôi thay đổi hoàn toàn về mặt nhận thức, giao tiếp, kỹ năng xã hội của trẻ được nâng lên một tầm cao mới, trẻ trở thành một con người hoàn toàn tự tin , đủ điều kiện để bước vào lớp 1 một cách tự tin nhất. - Trẻ tự tin tham gia vào các hoạt động của trường lớp và thành công lớn nhất của tôi là ” Đã đưa hành động vào trong ý thức và từ ý thức đó chở thành kỹ năng hàng ngày của trẻ” và những kỹ năng sống đó sẽ phát triển bền vững và theo trẻ đến suốt cuộc đời. 2. Kiến nghị. * Đối với nhà trường : + Tiếp tục đầu tư thêm trang thiết bị, đồ dạy học, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động rèn kỹ năng sống theo hướng hiện đại. + Tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề rèn kỹ năng sống tại trường, tạo điều kiện cho 100% giáo viên được tham dự. * Đối với Phòng giáo dục: + Thường xuyên xây dựng, tập huấn, dự giờ trao đổi chuyên môn về chuyên đề rèn kỹ năng sống cho trẻ mầm non để tạo điều kiện cho giáo viên trong huyện được trao đổi, chia sẻ, học tập lẫn nhau, nâng cao trình độ chuyên môn hơn nữa về phương pháp cũng như kiến thức của giáo viên. - Trên đây là "Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 vùng dân tộc thiểu số trường Mầm non Lục Sơn” Rất mong nhận được 17
  18. sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, hội đồng sáng kiến khoa học, chị em đồng nghiệp để tôi hoàn thiện hơn, thực hiện tốt hơn trong năm học tiếp theo./. - Tôi cam đoan đây là sáng kiến của tôi viết, không sao chép nội dung hoặc vi phạm bản quyền của người khác, sự tiến bộ trẻ lớp tôi là trung thực. Người viết sáng kiến ( Ký, ghi rõ họ và tên) Phạm Thị Thư 18