Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non Thị trấn Thắng-Hiệp Hòa-Bắc Giang

doc 22 trang Thiên Hoa 24/12/2025 400
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non Thị trấn Thắng-Hiệp Hòa-Bắc Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docmot_so_giai_phap_giao_duc_ky_nang_tu_bao_ve_ban_than_cho_tre.doc

Nội dung text: Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non Thị trấn Thắng-Hiệp Hòa-Bắc Giang

  1. 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN 1. Tên giải pháp: “Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường Mầm non Thị trấn Thắng - Hiệp Hòa - Bắc Giang”. 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 9 năm 2020 đến tháng 05 năm 2021. 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ trong trường mầm non chưa được cụ thể hóa thành một bộ môn trong chương trình học của trẻ, mà đơn thuần chỉ là lồng ghép vào các hoạt động trong ngày: trò chuyện lúc đón trả trẻ, lồng ghép giáo dục lúc dạo chơi, tham quan trong giờ hoạt động có chủ đích...Chính vì vậy thời gian cho trẻ nhận thức, rèn luyện, thực hành về kĩ năng tự bảo vệ bản thân rất ít, trẻ sẽ không hiểu nguyên nhân vì sao phải làm như vậy, mặc khác còn khiến trẻ mau quên những kĩ năng này. Bên cạnh đó việc sử dụng các tình huống giả định chưa được chú trọng, giáo viên chủ yếu sử dụng tranh ảnh, video minh họa để lồng ghép giáo dục trẻ, điều này đã hạn chế việc tạo cơ hội cho trẻ được thể hiện cách xử lý của mình trước những tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của trẻ. Mặt khác, khi giáo dục kỹ năng sống giáo viên chỉ quan tâm tới các kĩ năng cơ bản giúp trẻ biết bảo vệ bản thân mình, trẻ chỉ được học về sự khác biệt về đặc điểm bên ngoài, sở thích, trang phục của bạn gái- bạn trai, không chú trọng hoặc ngại dạy trẻ tiếp cận với kĩ năng tránh xâm hại cơ thể (xâm hại trẻ em) hoặc có đưa vào thì cũng dừng lại ở mức giúp các cháu tiếp cận vấn đề chứ chưa đi sâu vào giáo dục giới tính cũng như những kĩ năng phòng tránh xâm hại. Chính vì vậy, mà hiệu quả của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ còn hạn chế. Trẻ khi gặp các tình huống trong cuộc sống lúng túng, sai phạm thậm chí gặp nguy hiểm khi phải giải quyết các tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.
  2. 2 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp: Môi trường bên ngoài gia đình luôn là một môi trường đầy rẫy những hiểm nguy, đe doạ đối với trẻ. Đổi lại, đó lại là môi trường vô cùng lý thú để trẻ được phát triển tự do. Cha mẹ không thể luôn ở cạnh con, chăm sóc, bảo vệ con, nên cách tốt nhất là dạy trẻ cách tự bảo vệ chính bản thân mình. Điều này là vô cùng quan trọng, cần thiết, để giúp trẻ tránh khỏi kẻ xấu, tránh được các tại nạn và tìm thấy sự trợ giúp khi cần đến. Trước những vấn đề phức tạp, những hiểm nguy không lường trước. Đòi hỏi mỗi đứa trẻ phải có kỹ năng, kiến thức để vượt qua được những thách thức đó. Chính vì vậy, Giáo dục kỹ năng sống trong trường mầm non giúp trẻ thích nghi nhanh với cuộc sống. Tự làm chủ cuộc sống, phòng tránh được những hiểm nguy, sống tự lập, có trách nhiệm với bản thân, sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng hơn trong xã hội hiện đại với nền văn hoá đa dạng và kinh tế phát triển như hiện nay. Đây cũng là một trong những niệm vụ trọng tâm mà Bậc học mầm non triển khai thực hiện Phong trào " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực với yêu cầu tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của trẻ trong các hoạt động giáo dục của nhà trường và ở ngoài xã hội một cách chủ động sáng tạo có nội dung " Rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ, cụ thể là kỹ năng tự bảo vệ bản thân trẻ". Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở độ tuổi từ 0-6 tuổi là một môi trường có nhiều lợi ích tích cực vì Trẻ rất tò mò về thế giới xung quanh hay thích khám phá, tiếp thu và học hỏi mọi thứ xung quanh rất nhanh. Có thể hòa nhập cuộc sống với phương pháp phù hợp, phải đi đúng, nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý, sự phát triển của từng độ tuổi thì hiệu quả giáo dục đạt kết quả cao. Với trách nhiệm là một giáo viên chăm sóc giáo dục trẻ tôi đã trăn trở suy nghĩ, thấy trách nhiệm của bản thân cần phải cung cấp, trang bị cho trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân đúng cách. Vì vậy tôi đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non Thị Trấn Thắng - Hiệp Hòa - Bắc Giang”.
  3. 3 6. Mục đích của giải pháp: Tìm ra một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3-4 tuổi tại trường mầm non Thị Trấn Thắng: + Giúp giáo viên nâng cao nhận thức cũng như linh hoạt trong các hoạt động giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ. + Hình thành và rèn luyện các kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ giúp trẻ có kiến thức cơ bản tự bảo vệ mình, tránh khỏi những nguy hại đến bản thân, rèn luyện kĩ năng ứng phó với những tình huống nguy hại có thể xảy ra. + Giúp trẻ mạnh dạn, tự tin trong cuộc sống đồng thời góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non trong giai đoạn hiện nay. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến Giải pháp 1: Lựa chọn nội dung giáo dục kĩ năng tự bảo vệ bản thân vào từng chủ đề cụ thể Trong thực tế có rất nhiều kỹ năng tự bảo vệ khác nhau, khó có thể liệt kê một cách đầy đủ những kỹ năng con người cần có trong cuộc sống. Tuy nhiên dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ Mẫu giáo bé cùng với các hoạt động đặc thù của trẻ trong trường mầm non đó là “học mà chơi, chơi mà học” bên cạnh đó dựa vào chương trình giáo dục mầm non và tình hình cụ thể lớp vào đầu năm học tôi đã lên kế hoạch lựa chọn các kỹ năng tự bảo vệ phù hợp với trẻ 3-4 tuổi để đưa vào giáo dục trẻ nhằm đạt hiệu quả cao. Bảng: Xây dựng nội dung GD kĩ năng tự bảo vệ bản thân theo chủ đề TT Chủ đề Kĩ năng tự bảo vệ Tháng Nhận ra nơi nguy hiểm, biết chơi an 1 Trường mầm non Tháng 9 toàn với đồ chơi ngoài trời Nhận biết một số bộ phận riêng tư của 2 Bản thân Tháng 9 bé trai, bé gái. Nhận ra và tránh một số vật dụng nguy 3 Gia đình hiểm: dao, kéo, bàn là, bếp đang đun, Tháng 10 phích nước nóng.
  4. 4 4 Nghề nghiệp Không nghịch các vật sắc nhọn Tháng 11 Biết tránh xa một số con vật gây nguy 5 Động vật Tháng 12 hiểm Không đi theo người lạ ra khỏi khu vực 6 Tết và mùa xuân Tháng 1 trường, lớp. Không trèo cây, tránh xa khu vưc nguy 7 Thực vật Tháng 2 hiểm Biết chấp hành và thực hiện một số luật 8 Giao thông Tháng 3 giao thông đơn giản. Hiện tượng tự Nhận ra và tránh những nơi nguy hiểm : 9 Tháng 4 nhiên ao , hồ , sông suối, giếng nước, hố vôi. Quê hương - Đất 10 An toàn khi đi du lịch Tháng 5 nước- Bác Hồ Thông qua bảng kế hoạch giáo dục trẻ về các kĩ năng tư bảo vệ bản thân theo chủ đề, tôi đã chủ động đưa các nội dung giáo dục kỹ năng vào trong những hoạt động cụ thể giúp trẻ nhận thức sâu sắc hơn vấn đề, hình thành cho trẻ những kỹ năng ứng phó khi gặp vấn đề nguy hiểm trong quá trình sống của trẻ. Các nội dung rèn kĩ năng tự bảo vệ được tôi cụ thể hóa, không chồng chéo và được tích hợp vào từng chủ đề một cách dễ dàng theo tháng, theo tuần, theo từng ngày và trong suốt cả năm học theo kế hoạch và có hiệu quả. Giải pháp 2. Rèn kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ thông qua việc tổ chức các hoạt động. Ở trẻ mẫu giáo, hầu hết trẻ chưa phân biệt được những gì là nguy hiểm hay không nguy hiểm đối với mình. Chính vì vậy nên việc giúp trẻ phân biệt những mối nguy hiểm luôn được tôi quan tâm tổ chức hoạt động rèn kỹ năng cho trẻ thông qua các hoạt động học, hoạt động vui chơi, cũng như tất cả các hoạt động trong một ngày của trẻ. * Giáo dục kỹ năng sống vào các hoạt động học. Trong quá trình vui chơi học tập ở trường các con có thể gặp phải những mối nguy hiểm từ những đồ chơi, đồ vật trong trường lớp như: Ngã đu quay cầu
  5. 5 trượt, chạy nhảy vấp ngã trên sân trường, các ổ điện, đồ chơi trong lớp.... Để giúp trẻ có kiến thức hiểu được đâu là đồ chơi, đồ dùng trong trường, trong lớp; đâu là đồ vật an toàn và đồ vật không an toàn. Tôi đã xây dựng thành hoạt động học để dạy trẻ Kỹ năng an toàn khi chơi: Nhận ra và tránh một số vật dụng, nơi nguy hiểm (dao, kéo, chất tẩy rửa, đinh, ổ điện, nước sôi, bật lửa, kim tiêm, quạt, cách chơi cầu trượt, ao hồ, lòng đường, lan can...); dạy trẻ cách đội và tháo mũ bảo hiểm như sau: Ví dụ 1: Đối với kỹ năng “Nhận ra và tránh một số vật dụng, nơi nguy hiểm” tôi tiến hành dạy trẻ ở chủ đề “Gia đình” tôi đã xây dựng thành hoạt động học cụ thể như sau: - Đầu tiên tôi sẽ phân loại ra các nội dung, đồ dùng cần cung cấp cho trẻ trong tiết dạy (dưới dạng tranh ảnh) và chia lớp làm các nhóm để thảo luận: + Nhóm thảo luận về vật dụng nguy hiểm: dao, kéo, đinh, ấm nước sôi, ổ điện, bếp ga + Nhóm thảo luận về nơi nguy hiểm: hồ ao, bể nước, lòng đường, lan can Hình ảnh trẻ thảo luận theo nhóm Trẻ thảo luận xong tôi mời đại diện các nhóm lên giới thiệu trình bày những hiểu biết về các đồ dùng, cách xử lý của nhóm mình cho các nhóm còn lại xem. Sau mỗi lần giới thiệu tôi sẽ đăt hệ thống các câu hỏi để cả lớp khám phá:
  6. 6 Hình ảnh đại diện các đội giới thiệu những hiểu biết - Nhóm thảo luận về đồ dùng sắc nhọn: dao, kéo, đinh, cạnh bàn, cạnh ghế. + Các con có nhận xét gì về các đồ dùng này? + Điều gì sẽ xảy ra nếu các con tự ý dùng dao, kéo? + Khi nào thì các con được dùng kéo? Và phải dùng như thế nào? + Các con phải làm gì khi chơi gần cạnh bàn, cạnh ghế?... - Nhóm thảo luận về đồ dùng gây bỏng, giật: ấm nước sôi, ổ điện, bếp ga. + Đối với những đồ dùng này thì các con phải làm sao? (Tránh xa) + Vì sao lại phải tránh xa? + Điều gì sẽ xảy ra khi các con nghịch ấm nước sôi hay cho tay vào ổ điện? + Ai sẽ là người được dùng những đồ vật này? Tiếp theo tôi sử dụng các trò chơi để nhằm khắc sâu hơn cho trẻ những gì vừa được học như trò chơi “Chọn đồ chơi, những nơi không an toàn”. Hình ảnh trẻ chơi trò chơi
  7. 7 Ví dụ 2: Đối với kỹ năng dạy trẻ đội mũ bảo hiểm đúng cách, đây là một trong những kỹ năng mà tôi cho rằng rất là quan trọng phải chú tâm nhiều, tôi muốn hình thành cho trẻ của mình thói quen chấp hành đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông từ khi còn rất nhỏ đây là một điều đặc biệt cần thiết khi tham gia giao thông để đảm bảo an toàn cho chính bản thân mình. Với kỹ năng này tôi tiến hành dạy trẻ như sau: - Đầu tiên tôi sẽ cho trẻ xem 1 số hình ảnh khi bé ngồi trên xe máy: bé đội mũ bảo hiểm, bé không đội mũ bảo hiểm, đội mũ bảo hiểm bị ngược, đội mũ bảo hiểm nhưng không cài dây quai sau đó đàm thoại cùng trẻ: + Các con vừa nhìn thấy những gì? + Theo các con hành vi nào đúng? Hành vi nào sai khi tham gia GT? + Vì sao không đội mũ bảo hiểm, đội mũ bảo hiểm bị ngược, không cài dây quai mũ bảo hiểm là hành vi sai? + Để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông các con phải làm gì? + Vậy làm thế nào để đội mũ bảo hiểm đúng cách? - Bước tiếp theo tôi chia lớp thành 3 đội chọn qui trình các bước đội mũ bảo hiểm vào băng cài theo suy nghĩ của trẻ +B1: Cầm mũ bảo hiểm và xác định phía trước, phía sau của mũ bảo hiểm +B2: Lật ngửa mũ bảo hiểm và kéo dây quai sang 2 bên +B3: Đội mũ bảo hiểm lên đầu +B4: Cài chặt 2 dây quai cho vừa khít với cằm
  8. 8 Hướng dẫn bé cài mũ bảo hiểm - Mời lần lượt tổ, nhóm, cá nhân trẻ thực hiện đội mũ bảo hiểm đồng thời tôi giáo dục trẻ: Khi các con được người lớn chở đi học, đi chơi các con nhớ phải đội mũ bảo hiểm và phải đội đúng cách để bảo vệ an toàn cho bản thân. Đối với các tiết học tôi đã xây dựng, hầu hết việc đưa ra hệ thống câu hỏi trong quá trình tổ chức cho trẻ tìm hiểu được tôi hết sức chú trọng. Các câu hỏi phải thật sự ngắn gọn dễ hiểu đối với trẻ, câu hỏi mang tính gợi mở, giúp trẻ suy nghĩ để trả lời. Đồng thời để tiết dạy mang lại hiệu quả tôi đã sử dụng hình thức làm việc nhóm nhằm giúp trẻ có được sự tự tin mạnh dạn trong quá trình học tập. Sau mỗi bài học tôi thường chọn nhiều trò chơi ôn luyện để giúp trẻ nhớ lâu những kiến thức đã học * Lồng ghép trong các hoạt động trong ngày Việc tiếp nhận thông tin, tiếp thu kiến thức của trẻ diễn ra mọi lúc, mọi nơi trong các hoạt động trong ngày. Do vậy, Tôi đã lồng ghép, tích hợp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân vào các giờ đón, trả trẻ, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc, hoạt động dã ngoại cho trẻ VD: Vào giờ hoạt động buổi chiều, tôi cho trẻ xem 1 đoạn video mà tôi đã quay lại để nhập vào kho dữ liệu của nhà trường có nội dung về phòng tránh một số vật dụng nguy hiểm - Một số vật dụng dưới bếp: Dao, kéo, thìa, đũa, mảnh vỡ - Một số vật dụng gây bỏng: phích nước, siêu nước, ấm siêu tốc, bếp ga, bàn là - Một số hóa chất độc hại: nước rửa chén, nước lau sàn, nước tẩy bồn cầu, xà phòng, bột giặt
  9. 9 Tôi giáo dục trẻ phải tránh xa và không tự ý lấy, chơi đùa với các vật dụng gây nguy hiểm cho bản thân trẻ - Các đồ dùng: bút, kéo chỉ được sử dụng khi có người lớn giúp đỡ. Dùng xong phải cất vào đúng nơi quy định. Và phải báo ngay cho người lớn nếu nhìn để không đúng nơi quy định. VD: Vào giờ đón trả trẻ, tôi hướng dẫn trẻ rửa tay bằng dung dịch xát khuẩn tay đúng cách hay việc thường xuyên đeo khẩu trang khi ra ngoài cho cả phụ huynh và học sinh để bảo vệ bản thân trong tình hình dịch covid đang hết sức phức tạp hiện nay. VD: Trong hoạt động ngoài trời để giúp trẻ biết cách chơi sao an toàn tôi giáo dục trẻ chơi nhẹ nhàng không chen lấn xô đẩy nhau. Hình ảnh bé biết chờ đến lượt khi chơi với đồ chơi ngoài trời VD: ở chủ đề nghề nghiệp dạy trẻ kỹ năng phòng chống nguy cơ cháy nổ
  10. 10 Cho trẻ xem video về các vụ cháy và hỏi trẻ nguyên nhân nào gây ra các vụ cháy nổ. Hình ảnh bé tham gia giờ học phòng cháy chữa cháy VD: Khi cho trẻ tham quan dã ngoài trẻ rất thích thú nhưng việc bao quát trẻ gặp khó khăn nên trước khi cho trẻ tham gia vào các hoạt động Tôi nêu tình huống: Nếu con bị lạc con phải làm gì... VD: Trong giờ hoạt động vệ sinh, tôi không chỉ hướng dẫn trẻ rửa tay đúng các bước mà còn cho trẻ xếp hàng ngay ngắn không chen lấn xô đẩy để đảm bảo an toàn. Giải pháp 3: Thường xuyên sử dụng các tình huống giả định để dạy trẻ các kỹ năng tự bảo vệ bản thân.
  11. 11 Theo các nhà nghiên cứu chỉ rõ: Trẻ hiểu được 10% những gì trẻ nghe; 40% những gì nhìn thấy; 60% những gì trẻ nhắc lại (nói) và khoảng 90% những gì trẻ nói và làm. Chính vậy sau mỗi tình huống mà giáo viên đưa ra, trẻ sẽ được nhập vai và thể hiện cách xử lý trong từng tình huống từ đó trẻ sẽ có biểu tượng về các hành vi chuẩn mực làm giàu vốn sống, vốn kinh nghiệm giúp trẻ biết lựa chọn những hành vi tích cực để áp dụng vào cuộc sống của mình. Có rất nhiều tình huống xảy ra có thể đe dọa đến sự an toàn của trẻ, vì thế trẻ cần hiểu được trong tình huống nào thì phải làm gì để tránh sự nguy hiểm. Tôi đã đưa ra nhiều tình huống, các tình huống dạy trẻ phải thật gần gũi, thực tế, dễ hiểu phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Sau đây là một số tình huồng tôi đã áp dụng: - Tình huống thứ nhất: Nếu có người lạ cho con bánh, kẹo và rủ con đi chơi thì con làm như thế nào? Cho trẻ suy nghĩ, cho trẻ đưa ra ý kiến của mình, gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi. Hình ảnh trẻ không nhận quà của người lạ Sau đó, Tôi phân tích, giải thích cho trẻ và giúp trẻ có phương án giải quyết đó là: biết cách từ chối nhưng vẫn thể hiện sự lễ phép, ngoan ngoãn “Cháu cám ơn, nhưng bố mẹ cháu không cho nhận quà của người lạ”. Tôi đặt giả thiết nếu con từ chối nhưng họ vẫn một mực dúi quà vào tay con và có ý lôi kéo con thì lúc đó con làm gì? Với giả thiết này tôi muốn trẻ có
  12. 12 phản ứng thật nhanh như hét to, cáu thật mạnh vào tay người lạ và chạy nhanh đến người thân gần đó hoặc chỗ đông người Mời trẻ lên đóng vai, một cô giáo khác đóng vai người lạ. Thông qua vai trẻ đóng trẻ sẽ ứng phó với tình huống theo sự hiểu biết của bản thân, từ đó giúp trẻ khắc sâu hơn những kinh nghiệm mà trẻ có được Hình ảnh trẻ biết ứng phó không đi theo người lạ. Tình huống thứ 2: Bị lạc bố mẹ khi đi xem lễ hội, siêu thị, khu vui chơi. Tôi cho trẻ xem video bạn nhỏ bị lạc khi đi siêu thị, sau đó tôi cho trẻ suy nghĩ, mỗi trẻ sẽ đưa ra cách giải quyết của riêng trẻ. Gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi: Theo con làm vậy có được không? tạo sao? Sau đó, cô giúp trẻ rút ra phương án tối ưu nhất: Khi bị lạc bé hãy bình tĩnh, không khóc hay la hét và chạy lung tung mà hãy đứng yên một chỗ chờ. Vì bố, mẹ sẽ có thể quay lại chỗ đó để tìm bé. Hoặc bé có thể tìm đến những người mặc đồng phục giống nhau có đeo bảng tên, hoặc nhờ bảo vệ, cô bán hàng để giúp đỡ gọi điện thoại, hoặc thông báo lên loa để tìm bố mẹ. Tuyệt đối không đi theo người lạ dù người đó có hứa sẽ đưa về với bố mẹ, vì có thể đó là người xấu lợi dụng và sẽ bắt cóc con. Tình huống thứ 3: Con làm gì khi bạn rủ chơi đá bóng ngoài lề đường, vỉa hè Cho trẻ suy nghĩ là đưa ra cách giải quyết của mình. Trong khi trẻ thảo
  13. 13 luận, tôi đưa ra giả thiết: nếu chơi bóng ngoài đường thì sẽ nguy hiểm như thế nào? Tôi phân tích, giải thích cho trẻ và giúp trẻ hiểu vấn đề đó là: Tuyệt đối không chơi đá bóng ngoài lề đường vỉa hè vì sẽ dễ gây ra tai nạn xe cộ dẫn đến nguy hiểm đến bản thân. Khi gặp tình huống này các bé chỉ cần nói với bạn mình: Mình không chơi đâu vì mẹ nói chơi gần đường giao thông rất nguy hiểm. Thông qua nhiều tình huống cụ thể mà rất dễ xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, bằng cách cho trẻ thảo luận, yêu cầu trẻ suy nghĩ vận dụng kinh nghiệm của bản thân để giải quyết tình huống có vấn đề. Thông qua đó cô giúp trẻ tìm ra phương án hiệu quả nhất, đó cũng chính là kinh nghiệm ta cần dạy trẻ. Những tình huống có vấn đề được giáo viên đưa vào trong các hoạt động giáo dục trẻ đã giúp trẻ có sự tư duy logic, biết cách diễn đạt suy nghĩ của mình, và giúp trẻ có thêm kinh nghiệm trong cuộc sống. Giải pháp 4: Giáo dục nhận biết một số bộ phận riêng tư của bé trai, bé gái, tránh bị xâm hại cơ thể Xâm hại trẻ em là bất kỳ hành động nào có chủ ý và làm tổn thương hoặc gây nguy hại đến trẻ như: Ôm, hôn. Đụng chạm vào vùng kín của trẻ. Xâm hại trẻ em gây ra những tổn thương nghiêm trọng và lâu dài cả về thể xác và tâm lý đối với nạn nhân. Những hậu quả đó cũng ảnh hưởng đến gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Để đảm bảo cho trẻ có những kiến thức cơ bản về vấn đề bảo vệ thân thể cũng như cách phòng tránh khi bị xâm hại cơ thể. Với chủ đề "bản thân" tôi dạy trẻ nhận biết các bộ phận trên cơ thể, giáo dục trẻ những bộ phận không ai được đụng đến ngoài bố, mẹ, anh chị em trong gia đình, y tá hay bác sỹ khi đi khám bệnh có bố mẹ ở đấy. Đối với trẻ 3-4 tuổi các cháu chưa thể hiểu hết được các bộ phận thể hiện giới tính, giáo viên cũng không thể sử dụng tên gọi bộ phận sinh dục nam- nữ trong y khoa để nói với trẻ. Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy tôi đã sử dụng búp bê trai, búp bê gái mặc đồ bơi, những bộ phận cơ thể được đồ bơi che là các bộ phận riêng tư, vùng kín là nơi con nên tôn trọng, giữ gìn vệ sinh không nên để mọi người thấy bộ phận riêng tư của mình và đặc biệt tuyệt đối không
  14. 14 cho bất cứ ai động vào cũng như không được đụng chạm vào, bộ phận riêng tư, vùng kín của bất cứ ai, của bất cứ bạn nào trong lớp. Giờ học kĩ năng sống phân biệt giới tính Bên cạnh đó tôi luôn quan tâm đến việc gần gũi, trò chuyện cùng trẻ giúp trẻ chia sẻ cách cháu giữ gìn vệ sinh thân thể vệ sinh bộ phận riêng tư (thường xuyên tắm rửa) cũng như mạnh dạn chia sẻ với cô về những hành động không nên của bạn cùng lớp đối với cơ thể mình (đặc biệt một số hành động của bé trai đối với bé gái khi ở lớp). Điều này trong quá trình giảng dạy đã có rất nhiều giáo viên từng gặp phải, mặc dù người lớn chúng ta thường quan niệm rằng trẻ nhỏ như tờ giấy trắng, trẻ chưa biết gì. Tuy nhiên với bản thân là một giáo viên cũng là một người mẹ tôi thiết nghĩ, nếu chúng ta không ngăn chặn những hành động này thì vô hình dung giáo viên chúng ta đã giúp trẻ nghĩ rằng hành động xâm hại cơ thể của bạn cùng giới hay khác giới là không có gì sai.
  15. 15 Chính vì vậy song song việc giúp trẻ hiểu về giới tính của bản thân, về vùng riêng tư của trẻ, tôi còn đề ra một số qui định ở lớp như. - Đi vệ sinh đúng nơi qui định (phòng vệ sinh nam-nữ riêng) - Bạn trai không được nhìn bạn gái khi đi vệ sinh, khi thay đồ và ngược lại. - Không được nghịch, chơi đùa với bộ phận riêng tư của mình. Ngoài ra, tôi còn dạy trẻ học cách tự bảo vệ bản thân theo quy tắc "Năm ngón tay". Các nội dung trong quy tắc được viết thành bài hát “Năm ngón tay xinh” do Tổng đài Quốc gia trẻ em phát hành năm 2017. Trong quá trình dạy trẻ tôi thường xuyên sử dụng bài hát này cho trẻ nghe, hiểu và thực hiện một cách nhanh hơn:
  16. 16 VD: Quy tắc 5 ngón tay như sau: + Ngón cái - gần mình nhất tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột. Bé có thể ôm hôn những người này hoặc đồng ý để cho thành viên trong gia đình ôm hôn để thể hiện tình yêu, tắm rửa cho bé khi bé còn nhỏ. Nhưng khi đã lớn thì bé sẽ tự tắm và thay quần áo trong phòng.
  17. 17 + Ngón trỏ - tượng trưng cho thầy cô, bạn bè trong trường, lớp hoặc họ hàng trong gia đình những người này có thể nắm tay hoặc chơi đùa song chỉ dừng lại ở đó nhưng chạm vào "vùng đồ bơi" bé sẽ hét to và gọi mẹ. +Ngón giữa - người quen biết nhưng ít khi gặp như hàng xóm bạn bè của cha mẹ, những người này bé chỉ cần bắt tay, cười, chào hỏi. + Ngón áp út - người quen của gia đình mà bé gặp lần đầu với những người này bé chỉ cần dừng lại ở mức độ vẫy tay chào. + Ngón út - ngón tay xa bé nhất thể hiện những người hoàn toàn xa lạ hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến bé thấy lo sợ, bất an đối với những người này bé bỏ chạy và hét thật to thông báo với những người xung quanh. Bên cạnh đó tôi xây dựng các bước phòng tránh xâm hại cơ thể giúp trẻ ghi nhớ và thực hiện bằng cách đưa ra tình huống nếu ai đó cố tình nhìn, nói, đụng chạm vào vùng kín của con hoặc yêu cầu con nhìn và đụng chạm vùng kín của họ thì các con sẽ làm gì? Bước 1: Phản đối nói “Không”, xua tay, cắn thật mạnh tay, vai kẻ xấu Bước 2: Bỏ chạy (chạy thật nhanh đến nơi đông người, đồng thời hô to để mọi người chú ý đến mình). Bước 3: Kể lại tất cả câu chuyện mà người xấu đã làm với con với bố mẹ và những người các con tin cậy để người lớn kịp thời can thiệp và bảo vệ các con được an toàn hơn.
  18. 18 Giải pháp 5: Tuyên truyền, phối hợp với các bậc cha mẹ cách dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân. Ngoài việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ trên lớp, tôi còn kết hợp chặt chẽ với cha mẹ trẻ nhằm giúp các cháu có được kỹ năng tự bảo vệ tốt nhất, đảm bảo sự an toàn cho trẻ ở trường cũng như ở nhà, ở ngoài xã hội. Những giờ học về kĩ năng sống tôi đều mời phụ huynh tham gia, vừa để lắng nghe, quan sát phản ứng của con mình trước các tình huống vừa có thể tạo điều kiện để phụ huynh gặp gỡ trao đổi vơi giáo viên về tính cách đặc điểm của con em mình cho giáo viên nắm bắt dễ dàng hơn. Ngoài ra tôi còn dành thời gian phù hợp trong giờ đón, trả trẻ hay tuyên truyền đến các bậc phụ huynh thông qua bảng tuyên truyền của lớp để trao đổi những thông tin, hoặc cung cấp thông tin cho một số phụ huynh không có điều kiện cập nhật thông tin liên quan đến sự an toàn của trẻ hàng ngày. Một số thông tin có tính thời sự được tôi hết sức lưu tâm, tôi thu thập thông tin quà đài báo in ấn cẩn thận trang trí lên bảng tuyên truyền. Tuyên truyền với phụ huynh về kĩ năng tự bảo vệ bản thân Ngoài ra, tuyên truyền cho phụ huynh hiểu không nên làm hộ con, phải dậy trẻ tính tự lập từ bé. Trẻ càng được hướng dẫn sớm về cách tự lập, tự bảo vệ bản thân, nhận biết những mối nguy hiểm từ xung quanh và cách xử lí thì trẻ sẽ vững vàng vượt qua những thử thách trong mọi tình huống. Điều đó được chứng minh rõ ràng từ thực tế. Thông qua các cuộc họp đầu năm, cuối kì tôi trao đổi thẳng thắn và đưa ra một số yêu cầu đối với phụ huynh như sau:
  19. 19 Không để đồ vật, dụng cụ nguy hiểm gần nơi sinh hoạt của trẻ Không rời mắt khỏi trẻ khi cho các cháu đến những nơi đông đúc, tuyệt đối không cho trẻ chơi một mình ở những nơi nguy hiểm: ngoài đường, ao, hồ, công trình xây dựng... Hạn chế việc nhờ người quen, hàng xóm láng giềng đưa đón trẻ đi học. Tập cho trẻ gái có thói quen mặc quần lót khi còn bé. Cha mẹ hạn chế thể hiện tình cảm thái quá đối với con như thường xuyên nựng nịu bộ phận riêng tư của trẻ. Tuyệt đối không để cho con chứng kiến (nhìn thấy, nghe thấy) vấn đề riêng tư, tế nhị của cha mẹ. Gia đình tránh xem phim ảnh mang tính chất bạo lực trước mặt trẻ. Cha mẹ nên dành nhiều thời gian trò chuyện chia sẻ cùng con, không vội vàng phê phán đúng - sai, luôn tin tưởng vào năng lực của trẻ. Đối với một số phụ huynh không có thời gian tham gia vào cuộc họp, đặc biệt là những cháu con em của gia đình khó khăn, người đồng bào dân tộc thiểu số tôi đã tìm gặp trực tiếp trao đổi thông tin cần thiết đặc biệt là vấn đề phòng tránh xâm hại trẻ, tôi cẩn thận trao gửi một số tài liệu liên quan đến vấn đề này giúp phụ huynh bảo vệ con em mình, và cùng với nhà trường xã hội nâng cao kĩ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ. Giải pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giáo dục trẻ kỹ năng sống bảo vệ bản thân mình Trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ là việc vô cùng cần thiết và tiện lợi giúp giáo viên tổ chức các hoạt động có hiệu quả, thu hút được sự chú ý của trẻ, đáp ứng được yêu cầu giáo dục trẻ "Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm". Vì vậy, để giáo dục kĩ năng bảo vệ bản thân cho trẻ sử dụng các trang Youtube, Google... gõ các nội dung, kĩ năng cần cho trẻ xem hình ảnh, video, các biểu tượng... sẽ có đầy đủ, sinh động đặc biệt là những hình ảnh hỗ trợ rất nhiều cho giáo viên trong việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân trẻ, trẻ nhớ sâu hơn những kỹ năng bảo vệ bản thân.
  20. 20 Hình ảnh: Giờ học ứng dụng công nghệ thông tin * Kết quả của sáng kiến: Quá trình áp dụng, tôi đã thu được kết quả khá khả quan. Được thể hiện qua bảng khảo sát so với trước khi áp dụng như sau: Trước khi áp Sau khi áp Tăng dụng dụng (+) STT Nội dung khảo sát Khá Tỷ lệ Khá Tỷ lệ Giảm Tốt (%) Tốt (%) (-) Nhận ra và tránh một số 1 hành động, vật dụng, nơi 10/28 36% 26/28 93% +57% nguy hiểm Nhận biết được một số bộ 2 phận riêng tư của bé trai, 11/28 39% 26/28 92% +53% bé gái. Trẻ không đi theo người lạ 3 ra khỏi khu vực trường, 12/28 43% 27/28 96% +53% lớp. Biết chấp hành và thực 4 hiện một số luật giao thông 13/28 46% 27/28 96% +50% đơn giản. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng giải pháp: Đề tài “Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường Mầm non Thị trấn Thắng - Hiệp Hòa - Bắc Giang” được ứng dụng trong năm học 2020 - 2021 tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi C1 và các lớp mẫu giáo 3-4 tuổi khác trong trường mầm non Thị trấn Thắng trong năm học, mặc dù thời gian ứng dụng không nhiều nhưng đã có kết quả rất khả quan và hiệu quả cao.