Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ và tăng cường Tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ 24 - 36 tháng tại khu Na Lang, trường Mầm non Phong Minh

docx 17 trang Thiên Hoa 25/12/2025 40
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ và tăng cường Tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ 24 - 36 tháng tại khu Na Lang, trường Mầm non Phong Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbien_phap_nang_cao_chat_luong_giao_duc_song_ngu_va_tang_cuon.docx

Nội dung text: Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ và tăng cường Tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ 24 - 36 tháng tại khu Na Lang, trường Mầm non Phong Minh

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TRƯỜNG MẦM NON PHONG MINH BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024 - 2026 Tên biện pháp: “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ và tăng cường Tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ 24 - 36 tháng tại khu Na Lang, trường Mầm non Phong Minh”. Họ và tên: Dương Thị Ba Trình độ chuyên môn: Đại học Đối tượng giảng dạy: Trẻ 24- 36 tháng tuổi Chức vụ: Giáo viên
  2. Phong Minh, ngày 28 tháng 11 năm 2024 PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ - Hiện nay, ngôn ngữ sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta là ngôn ngữ tiếng Việt. Vì vậy giáo dục song ngữ và tăng cường tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ, đảm bảo cho trẻ có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục mầm non. - Bản thân tôi là giáo viên trường Mầm non Phong Minh, dạy tại lớp Nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi khu Na Lang với 100% trẻ là người dân tộc Dao. Hầu hết trẻ đến trường đều nói bằng hai thứ tiếng, mà chủ yếu là tiếng dân tộc. - Trẻ còn nói ngọng, nói chưa sõi, chưa hiểu được nghĩa của tiếng Việt, từ đó trẻ ngại giao tiếp với mọi người xung quanh. - Để trẻ nói được tiếng Việt thành thạo và hiểu được nghĩa của tiếng Việt trong giao tiếp, trong cuộc sống và hứng thú tham gia vào các hoạt động giáo dục tôi đã mạnh dạn tìm tòi nghiên cứu “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ và tăng cường tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi dân tộc thiểu số” tại Trường Mầm non Phong Minh. PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng - Năm học 2023 - 2024 theo sự phân công của ban giám hiệu nhà trường tôi được phụ trách lớp Nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi khu Na lang với 15 trẻ; 100% trẻ là người dân tộc Dao. Trong quá trình thực hiện bản thân tôi có những thuận lợi và khó khăn như sau:
  3. 1.1. Ưu điểm: - Nhà trường đã chú trọng việc triển khai thực hiện Đề án tăng cường tiếng Việt vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ theo kế hoạch số 226 ngày 02 tháng 4 năm 2022 của UBND tỉnh Bắc Giang và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn của PGD&ĐT Lục Ngạn, của trường MN Phong Minh về chuyên đề “Nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ vùng DTTS. - Được sự quan tâm, tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường và sự đồng lòng của các bậc phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. - Cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng tương đối đầy đủ, phòng học rộng, thoáng mát, bàn ghế đúng quy cách, phù hợp với độ tuổi của trẻ. - Lớp được trang bị đồ dùng, dụng cụ, tài liệu phục vụ cho việc dạy- học của giáo viên và học sinh. - Bản thân tôi là người dân tộc Dao, biết nói tiếng dân tộc Dao nên có thể giao tiếp với trẻ bằng cả hai thứ tiếng và đã nhiều năm phụ trách điểm trường khu Na Lang nên đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong việc dạy song ngữ cho trẻ dân tộc. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân: * Tồn tại, hạn chế: + Về phía giáo viên: - Hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục song ngữ cho trẻ chưa phong phú, chưa linh hoạt; chưa tích hợp triệt để trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ. + Về phía trẻ: - Trẻ chưa biết nói tiếng Việt. - Trẻ nói ngọng, mất dấu, mất phụ âm, vốn tiếng Việt còn hạn chế. - Trẻ nhút nhát, ngại giao tiếp, ít sử dụng tiếng Việt và hay giao tiếp bằng tiếng dân tộc. + Về phía phụ huynh:
  4. - Hầu hết người dân tại thôn Na Lang đều giao tiếp bằng tiếng Dao nên khi nói tiếng Việt còn ngọng, chưa được tròn câu, nói hay bị vấp. + Sự phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh chưa thường xuyên, phụ huynh chưa quan tâm đến việc dạy song ngữ “ Dao- Việt” cho trẻ khi ở nhà. + Về cơ sở vật chất: - Chưa trang bị đầy đủ đồ dùng, học liệu phục vụ hoạt động giáo dục song ngữ. * Nguyên nhân của hạn chế: + Về phía giáo viên: - Cô chưa thường xuyên lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục song ngữ cho trẻ vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong ngày, mà cô chỉ chủ yếu giao tiếp với trẻ một cách tự do. + Về phía trẻ: - Điểm trường khu Na Lang nằm cách xa khu trung tâm 7 km và tách biệt với các thôn khác nên trẻ không có nhiều cơ hội tiếp xúc, giao tiếp bằng ngôn ngữ Tiếng Việt. - Đặc thù của lớp là 100% trẻ dân tộc Dao, ít giao tiếp bằng tiếng Việt dẫn đến trẻ không nói được tiếng Việt mà chủ yếu sử dụng tiếng dân tộc. - 80% trẻ ra lớp mới bắt đầu học và làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt. - Nhiều trẻ chưa biết nói tiếng Việt nên nhận thức, giao tiếp và việc tiếp thu những kiến thức, kỹ năng giáo dục của cô còn chưa được nhanh nhạy. + Về phía phụ huynh: - 100% phụ huynh giao tiếp với trẻ bằng ngôn ngữ tiếng dân tộc khi ở nhà; việc trao đổi, trò chuyện bằng ngôn ngữ tiếng Việt chưa được chú trọng. Vì phụ huynh luôn giữ bản sắc dân tộc của mình nên phụ hunyh ít sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với trẻ. + Về cơ sở vật chất:
  5. - Đồ dùng, dụng cụ phục vụ hoạt động giáo dục song ngữ và tăng cường tiếng Việt chưa phong phú, đa dạng, chưa đáp ứng được với nhu cầu của việc dạy và học song ngữ cho trẻ. * Bảng khảo sát đánh giá thực trạng khả năng song ngữ của trẻ trước lúc thực hiện biện pháp STT Nội dung đánh giá Số Kết quả trước khi áp dụng biện pháp lượng Số trẻ chưa Tỷ lệ Số trẻ biết Tỷ lệ trẻ biết nghe - nói % nghe - nói % song ngữ song ngữ 1 Khả năng nghe - hiểu song ngữ: Tiếng Dao - tiếng Việt. 15 12/15 80 3/15 20 2 Khả năng nói song ngữ: Tiếng Dao - tiếng Việt. 2. Biện pháp đã thực hiện 2.1. Biện pháp 1: Tích hợp giáo dạy song ngữ và tăng cường tiếng Việt vào các hoạt động trong ngày. 2.1.1. Nội dung biện pháp - Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả. - Trong trường mầm non trẻ tham gia nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động học, hoạt động chơi, hoạt động ăn, ngủ...tất cả những hoạt động đều diễn ra trong ngày và giúp trẻ thực hành ngôn ngữ, khả năng nghe hiểu ngôn ngữ, khả năng diễn đạt bằng lời nói, trẻ trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp, nhờ vậy vốn từ của trẻ tăng lên,
  6. trẻ được luyện phát âm nói đúng từ, đúng câu, rèn luyện cách diễn đạt ý tưởng mạch lạc hơn. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp * Giáo dục song ngữ và tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động đón, trả trẻ: - Thời gian đón, trả trẻ là thời gian tôi được trò chuyện với trẻ nhiều nhất bằng hai thứ tiếng, tôi trao đổi với trẻ những việc trẻ đã làm khi ở nhà, ở lớp, về những sự vật hiện tượng xung quanh của trẻ... giúp trẻ nghe hiểu và sử dụng song ngữ một cách thành thạo. - Trong giờ đón trẻ- trò chuyện, tôi đặt câu hỏi bằng tiếng dân tộc cho trẻ trả lời sau đó dịch ra tiếng Việt và cho trẻ nhắc lại bằng tiếng Việt. - Ví dụ: Sau khi đón trẻ vào lớp, tôi hỏi trẻ: + Hải tàu tò Hưng mìng tụ sâu? => Ai đưa Hưng đi học? + Trẻ trả lời: Mé tò! => Mẹ đưa - Sau đó tôi dịch từ “Mé tò” là “Mẹ đưa” và cho trẻ nhắc lại nhiều lần để trẻ ghi nhớ từ bằng tiếng dân tộc và tiếng việt. (Trẻ trò chuyện cùng cô) * Giáo dục song ngữ và tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động ngoài trời: - Trong hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ dạo chơi xung quanh sân trường quan sát bồn hoa, khi trẻ quan sát xong tôi gợi hỏi trẻ các câu hỏi: “Trong bồn có gì? Cây hoa có đặc điểm gì? Hoa màu gì? Nếu trẻ chưa hiểu câu hỏi và chưa biết trả lời câu hỏi tôi sẽ đặt câu hỏi bằng tiếng dân tộc để trẻ trả lời. Sau đó cho trẻ nhắc lại câu trả lời bằng tiếng Việt.
  7. (Trẻ dạo chơi sân trường) - Tích cực thu thập các nguyên vật liệu thiên nhiên và phế liệu gia đình để dạy trẻ tạo ra sản phẩm theo chủ đề. Đưa sản phẩm của trẻ tạo ra vào hoạt động tăng cường Tiếng Việt. Ví dụ: Khi trẻ làm xong con Trâu bằng lá mít, tôi gợi hỏi để trẻ nhận xét, trong quá trình trẻ nhận xét cô chú ý lắng nghe và cung cấp vốn từ tiếng Dao - Việt cho trẻ: + Các con vừa làm được con gì đây? (Con Trâu) + Con Trâu nói tiếng Dao là gì? (Tàu Ngồng) + Con Trâu được làm bằng gì? (Lá cây - Điằng nòm). (Trẻ làm đồ dùng đồ chơi từ lá cây) * Tăng cường Tiếng Việt thông qua hoạt động góc: - Ở các góc chơi trẻ có thể làm một số công việc hàng ngày trong cuộc sống, tái hiện lại trong trẻ sự việc xảy ra và từ đó trẻ được “tắm” mình vào môi trường song ngữ sẽ có tác dụng tích cực, giúp trẻ giao tiếp bằng song ngữ. - Giờ hoạt động góc cô cho trẻ tự nhiên giao lưu song ngữ với nhau thông qua các trò chơi kể chuyện đọc thơ, đóng vai, nói tên các đồ chơi đồ dùng trên các góc bằng cách cho một trẻ hỏi và một trẻ trả lời, đóng các vai như nấu ăn, bán hàng.... - Bên cạnh đó tôi luôn theo sát trẻ để kịp thời sửa sai uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không có trọng tâm hay trẻ dùng tiếng dân tộc. Ví dụ: Khi trẻ chơi nấu ăn, cô đến góc chơi hỏi trẻ: Con đang làm gì? (Luộc trứng vịt). Nếu trẻ trẻ lời bằng tiếng dân tộc thì cô cung cấp cho trẻ từ “(Luộc trứng vịt” bằng tiếng Việt và cho trẻ phát âm chuẩn từ “Luộc trứng vịt” theo cô.
  8. (Trẻ chơi hoạt động góc) 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp - Trẻ nghe hiểu và tự tin giao tiếp cùng cô và các bạn trong các hoạt động ở lớp cũng như khi ở nhà. * Bảng khảo sát đánh giá thực trạng khả năng song ngữ của trẻ sau khi thực hiện biện pháp 1 STT Nội dung đánh giá Số Kết quả sau khi áp dụng biện pháp lượng Số trẻ chưa Tỷ lệ Số trẻ biết Tỷ lệ trẻ biết nghe - % nghe - nói % nói song ngữ song ngữ 1 Khả năng nghe - hiểu song ngữ: Tiếng Dao - tiếng Việt. 15 10/15 66,7 5/15 33,6 2 Khả năng nói song ngữ: Tiếng Dao - tiếng Việt. - Ví dụ như: Bạn Hải đầu năm chưa biết nói tiếng Việt, đến lớp hoàn toàn nói tiếng dân tộc và rất nhút nhát nhưng bây giờ đã nói được nhiều, biết trả lời câu hỏi của cô và đã mạnh dạn giao tiếp với cô và các bạn bằng tiếng Việt - tiếng Dao. 2.2. Biện pháp 2: Sử dụng các phương pháp nâng cao chất lượng giáo dục somg ngữ và tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. 2.2.1. Nội dung biện pháp - Các phương pháp bao gồm: + Phương pháp trực quan hành động. + Phương pháp sử dụng trò chơi. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
  9. * Phương pháp trực quan hành động: + Phương pháp trực quan hành động với cơ thể: - Dạy trẻ nghe và hiểu ý nghĩa của từ mới: Trước tiên cần sử dụng các vận động cơ thể, trẻ sẽ hiểu được ý nghĩa của hành động đó trước khi nói một từ mới. Ví dụ: Khi cho trẻ học về các quy định của lớp như đứng lên, ngồi xuống... Cô giải thích từ đứng lên, ngồi xuống bằng tiếng dân tộc (Xiếu ciủa xin- Chuẩy dìa) cho trẻ hiểu nghĩa của từ. Sau đó cô làm mẫu cho trẻ quan sát và cho trẻ thực hiện, cô kiểm tra lại bằng cách: cô nói lại các từ vừa học, trẻ thực hiện động tác hoặc cô thực hiện hành động, trẻ nói lại được các từ vừa học bằng tiếng Dao- tiếng Việt. - Với cách sử dụng vận động cơ thể như vậy, mặc dù không có đồ dùng đồ chơi nhưng vẫn cung cấp cho trẻ một số vốn từ và cấu trúc ngữ pháp nhất định giúp trẻ hiểu và nói song ngữ dễ dàng hơn. + Phương pháp trực quan hành động với đồ vật: - Phương pháp trực quan hành động với đồ vật là sử dụng các đồ vật, đồ chơi gần gũi, quen thuộc với trẻ để dạy song ngữ tiếng Dao - Việt cho trẻ. - Cách thực hiện như sau: + Khi học từ chỉ đồ vật, cô giáo chỉ vào từng đồ vật và nói tên bằng tiếng Dao- tiếng Việt. Ví dụ: Cô chỉ vào thìa và nói: “cái thìa” - “nom pìu keng”, trẻ nhắc lại từ “cái thìa”- “nom pìu keng”. Tương tự như vậy với các đồ vật khác, mỗi từ nhắc lại 3 lần để trẻ tập phát âm và ghi nhớ. + Sau khi trẻ đã nắm vững các từ mới thì dạy cho trẻ nói cả câu: "Đây là cái thìa"- “nái là nom pìu keng”; “Đây là cái bát” - “nái là nom viến”...; tiếp đó dạy trẻ đặt câu hỏi: "Đây là cái gì?". - Với trẻ 24-36 tháng tuổi tôi thường lựa chọn các vật thật hoặc các đồ dùng, đồ chơi sẵn có trong lớp, trẻ thường được chơi và sử dụng để cho trẻ học và nói. + Phương pháp trực quan với hình ảnh:
  10. - Trong hoạt động nhận biết tôi cho trẻ tiếp xúc, khám phá các sự vật hiện tượng qua vật thật, đồ chơi, tranh ảnh... để trẻ tri giác từ đó trẻ nêu lên nhận xét đặc điểm cấu tạo, hình dáng, của sự vật bằng ngôn ngữ. Khi trẻ nhận xét tôi lắng nghe trẻ phát âm để kịp thời sửa lỗi phát âm cho trẻ và củng cố chính xác lại từ trẻ phát âm. Qua đó rèn luyện kỹ năng phát âm, cung cấp vốn từ, tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ. Ví dụ: Trong hoạt động nhận biết về con Gà, tôi cho trẻ quan sát hình ảnh con Gà và yêu cầu trẻ quan sát thật kỹ để biết được con Gà có đặc điểm gì, màu gì , sau đó tôi đặt câu hỏi để trẻ trả lời + Nái là nom ngai - Đây là con gì? + Con gà nói tiếng Dao là gì? (Nom chay - con gà) Khi trẻ trả lời tôi lắng nghe, sửa sai và cho trẻ nhắc đi nhắc lại từ bằng cả tiếng Dao và tiếng Việt.
  11. (Hình ảnh giờ hoạt động nhận biết con vật nuôi) - Ngoài ra tôi còn sử dụng hình ảnh cho việc minh họa cho một số bài dạy ở trên lớp, tôi thiết kế các bài dạy để có thể đàm thoại về nội dung tác phẩm văn học và dạy song ngữ cho trẻ. (Hình ảnh sử dụng powerpoint trong giờ học) * Phương pháp sử dụng trò chơi: - Trẻ mầm non hoạt động vui chơi là chủ đạo trông qua các trò chơi kích thích sự hứng thú cho trẻ nên việc tổ chức cho trẻ chơi trò chơi để học song ngữ là rất cần thiết và phù hợp.
  12. Ví dụ: Khi chơi trò chơi “Ngón tay nhúc nhích” Khi trẻ giơ một ngón tay và đồng thời cô sẽ cho trẻ nói từ “Một ngón tay” bằng tiếng Dao “dận nom pù đú” Như vậy trẻ vừa được chơi trò chơi vừa được nói bằng cả 2 thứ tiếng Hoặc khi chơi trò chơi "Chim bay, cò bay" trẻ sẽ học được các từ chỉ các con vật biết bay và các từ chỉ đồ vật, con vật không thể bay được. (Trẻ chơi các trò chơi) 2.2.3. Kết quả áp dụng biệt pháp - Áp dụng biện pháp trên trẻ có sự tiến bộ rõ rệt, biết nói được thành thạo, lưu loát biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói bằng tiếng Việt, tiếng Dao, không còn trẻ nói câu không đúng nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, mạnh dạn giao lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh. * Bảng khảo sát đánh giá thực trạng khả năng song ngữ của trẻ sau khi thực hiện biện pháp 2 STT Nội dung đánh giá Số Kết quả sau khi áp dụng biện pháp lượng Số trẻ chưa Tỷ lệ Số trẻ biết Tỷ lệ trẻ biết nghe - nói % nghe - nói % song ngữ song ngữ 1 Khả năng nghe - hiểu song ngữ: Tiếng Dao - tiếng Việt. 15 12/15 80 3/15 20 2 Khả năng nói song ngữ: Tiếng Dao - tiếng Việt.
  13. 2.3. Biện pháp 3: Tăng cường phối hợp với cha, mẹ trẻ, cộng đồng để giáo dục song ngữ cho trẻ. 2.3.1. Nội dung biện pháp - Trong một buổi học trẻ được tiếp xúc với cô giáo rất nhiều nhưng chúng ta biết phối hợp với gia đình trong việc dạy song ngữ cho trẻ lại càng tốt hơn. - Vì vậy tôi đã phối hợp chặt chẽ với gia đình trong việc dạy song ngữ và tăng cường tiếng Việt cho trẻ tại gia đình. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp - Phối hợp với cha mẹ trẻ xây dựng môi trường giao tiếp với trẻ ở trường lớp cũng như tại gia đình bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt; đồng thời tích cực tuyên truyền tới gia đình trẻ các chuyên đề “Truyền thông cho cha mẹ về phương pháp tăng cường tiếng Việt dựa trên tiếng mẹ đẻ”, “phương pháp giao tiếp với trẻ bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt ở tại gia đình” . - Khuyến khích cha, mẹ trẻ sưu tầm các câu chuyện, bài thơ, sử thi, câu đố, các bài hát ru, trò chơi dân gian bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt để sử dụng trong trường Mầm non. - Phối hợp với cha, mẹ trẻ đưa nét văn hóa dân tộc Dao vào trong các chương trình sự kiện, lễ hội, hoạt động trải nghiệm của trường để bảo tồn, tôn vinh nét đẹp truyền thống của người Dao. - VD: Xây dựng góc tuyên truyền, góc địa phương tại nhóm lớp; chợ quê của bé tại khu a (Chợ quê của bé) 2.3.3. Kết quả áp dụng biệt pháp
  14. * Đối phụ huynh: - Phụ huynh tạo điều kiện cho trẻ giao tiếp bằng cả tiếng Dao - tiếng Việt, rèn luyện thêm cho trẻ cách phát âm tiếng Việt khi ở nhà. * Đối với trẻ: - Trẻ nghe- hiểu và nói được thành thạo 2 thứ tiếng Dao - Việt. * Bảng khảo sát đánh giá thực trạng khả năng song ngữ của trẻ sau khi thực hiện biện pháp 3 STT Nội dung đánh giá Số Kết quả sau khi áp dụng biện pháp lượng Số trẻ chưa Tỷ lệ Số trẻ biết Tỷ trẻ biết nghe - nói % nghe - nói lệ song ngữ song ngữ % 1 Khả năng nghe - hiểu song ngữ 15 0 0 15/15 100 2 Khả năng nói song ngữ PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Để thực hiện biện pháp giáo nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ và tăng cường tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ. Tôi đã căn cứ vào các văn bản, hướng dẫn như sau: - Căn cứ quyết định số: 5006/QĐ-BGDĐT ngày 31/12/2021 Ban hành kế hoạch Giai đoạn 2 thực hiện Đề án “Tăng cường chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ. - Căn cứ Kế hoạch số: 226/KH-UBND ngày 02/4/2022, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành kế hoạch Giai đoạn 2 thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non và học
  15. sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 -2020, định hướng đến năm 2025” trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ. - Căn cứ kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn của PGD&ĐT Lục Ngạn, của trường MN Phong Minh về chuyên đề “Nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ vùng DTTS. - Căn cứ kế hoạch CSGD trẻ năm học của Trường Mầm non Phong Minh - Căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo chuyên môn của trường mầm non Phong Minh về việc nghiên cứu thực trạng của nhà trường và đưa ra các giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ tại khu Na Lang. - Video về sự tiến bộ và kết quả đạt được của trẻ sau khi áp dụng biện pháp. PHẦN D: CAM KẾT Tôi cam kết “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ và tăng cường Tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ 24 - 36 tháng tại khu Na Lang, trường Mầm non Phong Minh” là của tôi thực hiện, tôi không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; không sử dụng biện pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ em lớp nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi tại khu Na Lang trường Mầm non Phong Minh là trung thực. Phong Minh, ngày 28 tháng 11 năm 2024 GIÁO VIÊN (Ký và ghi rõ họ tên) Dương Thị Ba
  16. PHẦN E: ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG 1. Đánh giá, nhận xét của tổ chuyên môn ............................................................................................................................................. ............................................................................................................................................. ........................................................................... Phong Minh, ngày 02 tháng 12 năm 2024 TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN (Ký và ghi rõ họ tên) 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
  17. ............................................................................................................................................. ............................................................................................................................................. ........................................................................... Phong Minh, ngày 02 tháng 12 năm 2024 HIỆU TRƯỞNG (Ký và ghi rõ họ tên)