Biện pháp giúp trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B1 trường Mầm non Tân Hiệp

pdf 20 trang Trà trà 03/03/2026 100
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp giúp trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B1 trường Mầm non Tân Hiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfbien_phap_giup_tre_lam_quen_voi_tieng_dan_toc_nung_lop_mau_g.pdf

Nội dung text: Biện pháp giúp trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B1 trường Mầm non Tân Hiệp

  1. PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Yên Thế là một huyện miền núi có nhiều người dân tộc cùng sinh sống bao gồm dân tộc Tày, Nùng, Caolan, Dao; Sán Dìu, Mường và một số dân tộc khác như dân tộc Thái, Hoa Người dân tộc được sinh sống rải rác ở xã. Trong đó dân tộc Nùng chiếm tỷ lệ cao đạt 68% trong tổng số, và tại xã Tân Hiệp có thôn Đồng Bông với 90% số người là dân tộc Nùng. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa và tiếng nói riêng, tuy nhiên cho đến nay có nhiều nét văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán của người dân tộc đang bị mai một, trong đó có ngôn ngữ giao tiếp của người dân tộc Nùng. Thực hiện Kế hoạch số 80/KH-UBND ngày 01/6/2022 của UBND huyện Yên Thế về việc triển khai Kế hoạch Giai đoạn 2 thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến năm 2025”; Công văn số 339/PGD&ĐT ngày 31/3/2023 của Phòng Giáo dục và Đào tạo Yên Thế về việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ trong các cơ sở GDMN; Kế hoạch số 1054/KH-PGDĐT ngày 23/9/2024 của Phòng Giáo dục và Đào tạo về thực hiện nhiệm vụ năm học 2024-2025 đối với giáo dục dân tộc. Với mục tiêu bảo tồn và phát triển tiếng mẹ đẻ của trẻ nên tôi đã lựa chọn đề tài “Biện pháp giúp trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B1 trường Mầm non Tân Hiệp”. Tôi đưa ra một số biện pháp nhằm phát huy ngôn ngữ mẹ đẻ, tiếng dân tộc Nùng của trẻ mà còn tạo nền tảng để trẻ phát triển tư duy, tiếp thu văn hóa và hình thành bản sắc dân tộc ngay từ lứa tuổi mầm non. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng việc giáo dục song ngữ tiếng dân tộc Nùng 1.1. Ưu điểm a. Nhà trường - Năm học 2024-2025 với nhiệm vụ trọng tâm giáo dục song ngữ, dạy tiếng dân tộc Nùng cho trẻ, nhà trường đã triển khai tổ chức tập huấn cho 100% giáo viên “Hướng dẫn tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ vùng dân tộc thiểu số”. - Xây dựng kế hoạch với nội dung bài dạy được phân công cụ thể theo chủ để giáo viên thực hiện. - Chỉ đạo giáo viên thực hiện xây dựng môi trường giáo dục dân tộc cho trẻ (Môi trường trong và ngoài lớp). - Nhà trường trang trí góc trải nghiệm “Không gian văn hóa dân tộc”; Xây dựng mô hình bản làng thu nhỏ của người dân tộc. - Nhà trường có 02 lớp 4-5 tuổi được giao nhiệm vụ thực hiện mô hình điểm dạy tiếng dân tộc Nùng cho trẻ.
  2. 2 b. Giáo viên - Giáo viên được tham gia các buổi tập huấn do phòng và trường tổ chức có nội dung giáo dục song ngữ cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số. - Giáo viên là người dân tộc Nùng. - Căn cứ kế hoạch của nhà trường giáo viên đã lựa chọn các đề tài đưa vào chủ đề. - Giáo viên chủ động tự học, tự bồi dưỡng cho bản thân về tiếng dân tộc Nùng. - Trang trí lớp học đảm bảo có nội dung giáo dục bản sắc dân tộc cho trẻ phù hợp thực tế tại lớp. - Giáo viên được giao nhiệm vụ thực hiện lớp dạy điểm về giáo dục tiếng dân tộc cho trẻ. c. Đối với trẻ - Một số trẻ trong lớp là người dân tộc Nùng được nghe ông bà, bố mẹ giao tiếp bằng tiếng dân tộc Nùng. d. Đối với phụ huynh - Có một số phụ huynh là bố mẹ, ông bà biết tiếng dân tộc Nùng. - Một số phụ huynh là ông bà rất tích cực hỗ trợ giúp giáo viên, phối hợp cùng giáo viên dạy tiếng dân tộc cho trẻ. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Nhà trường - Thiếu nguồn hướng dẫn cho giáo viên, nguyên nhân do ngôn ngữ tiếng dân tộc Nùng không có chữ viết, chủ yếu là qua truyền miệng. - Số giáo viên biết tiếng dân tộc còn ít có 02/16 giáo viên. 1.2.2. Giáo viên - Giáo viên nói tiếng dân tộc Nùng chưa được thành thạo. Nguyên nhân do giáo viên ít sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp hàng ngày. 1.2.3. Phụ huynh - Số lượng phụ huynh là cha mẹ biết tiếng dân tộc Nùng ít, chủ yếu là ông bà, nguyên nhân do phụ huynh không sử dụng giao tiếp hàng ngày nên ngôn ngữ bị mai một dần. 1.2.4. Đối với trẻ - Một số trẻ là người dân tộc Nùng, sống tại bản Đồng Bông nhưng không biết tiếng Nùng do tại gia đình trẻ không thường xuyên sử dụng ngôn ngữ là tiếng dân tộc để giao tiếp và dạy trẻ. Căn cứ thực trạng của trẻ trong lớp nên tôi đã lựa chọn nội dung tiến hành khảo sát ngay từ đầu năm học 2024-2025.
  3. 3 STT Nội dung Số lượng đạt/tỉ lệ 1 Trẻ sôi nổi, hào hứng, tích cực tham gia hoạt 9/18 = 50% động làm quen với tiếng dân tộc Nùng 2 Trẻ phát âm đúng một số từ đơn giản của tiếng dân 8/18 = 44,4% tộc Nùng 3 Trẻ yêu thích một số phong tục, tập quán và 8/18 = 44,4% bản sắc văn hóa của dân tộc Nùng 2. Biện pháp giúp trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B1 Trường Mầm non Tân Hiệp Để giáo dục dạy trẻ về tiếng dân tộc Nùng tôi sử dụng một số biện pháp như sau: 2.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung phù hợp và tạo môi trường mang bản sắc văn hóa của dân tộc Nùng 2.1.1. Nội dung biện pháp - Xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung tổ chức dạy tiếng dân tộc Nùng cho trẻ vào các chủ đề của năm học, phù hợp với nhận thức của trẻ, căn cứ vào mục tiêu, nội dung, kết quả mong đợi theo độ tuổi. - Xây dựng môi trường giáo dục mang đậm nét văn hóa dân tộc nhằm cung cấp nhiều cơ hội học tập vui chơi khác nhau cho trẻ, cung cấp củng cố kiến thức, là cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, khám phá về nét đẹp văn hóa, đồ dùng, trang phục truyền thống của dân tộc Nùng. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp a. Xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung Thực hiện kế hoạch số 341/KH-MNTH ngày 26/9/2024 của trường mầm non Tân Hiệp về thực hiện giáo dục tiếng dân tộc cho trẻ năm 2024-2025; - Căn cứ đặc điểm nhận thức về PTNN của trẻ, căn cứ tình hình thực tế tôi đã xây dựng nội dung bài dạy, đưa vào các chủ đề trong năm học 2024-2025 cụ thể như sau: Thời gian STT Nội dung bài dạy Tên chủ đề thực hiện Làm quen từ: Đi học, Ăn cơm, uống 1 Trường MN Tháng 9/2024 nước. 2 Làm quen từ: cái mũi, cái mắt, tai Bản thân Tháng 10/2024 3 Làm quen từ: Bố, mẹ, anh trai, chị gái Gia đình Tháng 11/2024 4 Làm quen từ: Con dao, cái cuốc, cái liềm Nghề nghiệp Tháng 12/2024 5 Làm quen từ: Con gà, con chó, con trâu Động vật Tháng 01/2025
  4. 4 Tết- Mùa 6 Làm quen từ: Ăn tết, bánh trưng Tháng 02/2025 xuân Làm quen từ: Cây bưởi, cây chuối, 7 Thực vật Tháng 3/2025 cây đu đủ Phương tiện 8 Làm quen từ: Đi đường, ngồi xe. Tháng 4/2025 giao thông Hiện tượng 9 Làm quen từ: Nắng, mưa. Tháng 4/2025 tự nhiên Quê hương 10 Làm quen từ: Cánh đồng, đồi núi. đất nước Bác Tháng 5/2025 Hồ Các nội dung dạy tiếng dân tộc cho trẻ, trong mỗi chủ đề tôi xây dựng ít nhất 01 hoạt động, ngoài ra tôi dạy trẻ lồng ghép vào các hoạt động trong ngày lựa chọn các từ để dạy trẻ. b. Tạo môi trường mang bản sắc văn hóa của dân tộc - Trong lớp tôi lựa chọn khoảng không gian phù hợp để xây dựng môi trường giáo dục văn hóa dân tộc, có trang trí một số đồ dùng, dụng cụ, trang phục của dân tộc Nùng; Chuẩn bị các quyển sách có hình ảnh và trang phục, đồ dùng của một số dân tộc khác. Mảng trang trí về dân tộc
  5. 5 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp - Với kế hoạch, lựa chọn nội dung bài dạy tiếng dân tộc Nùng qua 04 chủ đề (từ tháng 9/2024 đến tháng 12/2024 năm học 2024-2025) tôi thấy kế hoạch, nội dung xây dựng là phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế tại lớp. - Trẻ trong lớp tích cực tham gia vào hoạt động học tiếng dân tộc, cùng nhau khám phá tại góc trang trí do giáo viên xây dựng. 2.2. Biện pháp 2: Dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng thông qua một số hoạt động trong ngày 2.2.1. Nội dung biện pháp - Với kế hoạch và bài dạy tiếng dân tộc Nùng cho trẻ tôi đã thực hiện 01 bài/1 chủ đề, ngoài ra tôi tận dụng các cơ hội ở mọi lúc, mọi nơi, lựa chọn hoạt động phù hợp để lồng ghép, tích hợp như thông qua hoạt động học, giờ đón trẻ trả trẻ, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc, giờ ăn, hoạt động chiều. Tận dụng các thời điểm để dạy trẻ tiếng dân tộc đảm bảo nội dung phù hợp với nhận thức của trẻ trong các hoạt động. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp - Cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nên khi tổ chức lồng ghép vào các hoạt động tôi luôn chú trọng giáo dục theo hướng lấy trẻ làm trung tâm lựa chọn các thời điểm thích hợp để tạo cơ hội dạy trẻ. a. Giờ đón trẻ - Đây là thời gian đầu giờ đón trẻ, trẻ đến lớp được giáo viên đón, trẻ chào cô, chào bố mẹ. Tôi đã lựa chọn dạy trẻ từ “Con chào cô - Lục chào cú”; Trẻ chào bố/mẹ/ông/bà: “Con chào bố/mẹ/ông/bà ạ- Lục chào pá/mé/cúng/phò ạ”.
  6. 6 - Vậy hàng ngày việc dạy trẻ chào cô và người thân bằng tiếng dân tộc Nùng được tôi dạy đi dạy lại nhiều lần, giúp trẻ nhớ và thuộc các từ. - Sau khi đón trẻ, tôi cho trẻ chơi tự do, cùng trò chuyện với trẻ và đây là khoảng thời gian tôi có thể giúp trẻ ôn luyện củng cố lại bài đã học. Ví dụ: Cho trẻ ôn lại một số từ “đi học - pay tọoc sư”. - Cô hỏi trẻ: Ai biết từ “Đi học” tiếng Nùng nói như thế nào nhỉ? Từ “Ăn cơm; uống nước” tiếng Nùng nói thế nào?...vv. Tôi tích cực hỏi cá nhân trẻ, cả lớp trả lời đồng thanh, tôi thường xuyên quan tâm giúp đỡ trẻ để nhớ cách nói bằng tiếng dân tộc Nùng. b. Hoạt động học có chủ đích - Thông qua hoạt động chủ đích tôi đã tổ chức dạy trẻ các bài dạy phù hợp theo chủ đề, chủ điểm theo kế hoạch đã xây dựng và được duyệt từ đầu năm, tôi đã lựa chọn các hình thức và phương pháp để dạy trẻ, luôn quan tâm đến giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Ví dụ: Hoạt động làm quen với tiếng dân tộc Nùng - Chủ đề bản thân; Đề tài: Nghe, nói từ “Mắc đăng - cái mũi”, “Mắc ha - cái mắt”; “Pí hu - tai” - Phần vào bài tôi cho trẻ trình diễn thời trang với bộ trang phục dân tộc Nùng, tôi hướng trẻ cùng giao lưu với “Người mẫu nhí”. - Sau đó cho 02 người mẫu nhí giới thiệu về bản thân như: Tên trẻ, tên lớp, tên trường, nơi ở, trang phục bằng tiếng dân tộc Nùng VIDEO TRẺ GIỚI THIỆU BẢN THÂN BẰNG TIẾNG NÙNG.mp4 -> Với màn trình diễn thời trang trẻ lớp tôi đã biết sử dụng ngôn ngữ là tiếng dân tộc Nùng để giới thiệu về bản thân.
  7. 7 - Phần bài mới: Tôi cho trẻ tìm hiểu kiến thức từ mới: Làm quen với từ “Mắc đăng - cái mũi”, “Mắc ha - cái mắt”; “Pí hu - tai”. - Tôi cho trẻ quan sát hình ảnh các bộ phận trên cơ thể trên màn hình và dạy trẻ biết cách nói từng bộ phận bằng tiếng Nùng. Giáo viên cho trẻ quan sát hình ảnh bộ phận cơ thể - Để củng cố các từ vừa học tôi tổ chức trò chơi “Ai thông minh hơn” yêu cầu trẻ cầm lô tô có hình ảnh bộ phận cơ thể vừa được học, sau đó đi xung quanh vòng tròn, khi cô yêu cầu bộ phận nào thì trẻ sẽ cầm lô tô có bộ phận đó nhảy vào vòng, sau đó yêu cầu trẻ nói lại tên bộ phận bằng tiếng Dân tộc Nùng và ngược lại cô nói tiếng dân tộc Nùng là các bộ phận yêu cầu trẻ cầm lô tô và nhảy vào vòng.
  8. 8 Trẻ tham gia trò chơi “Ai thông minh hơn” Ví dụ: Chủ đề gia đình; Đề tài: Nghe, nói từ “Pá - bố”; “Mé - mẹ”; “Pỉ báo - anh trai; Pỉ sao - chị gái”. - Nhằm giúp trẻ được giao tiếp, giao lưu trực tiếp với người dân tộc Nùng, người bản xứ với ngôn ngữ tiếng Nùng. Tôi đã mời các bậc phụ huynh là bà của trẻ đến tham dự và giao lưu với trẻ. - Phần mở đầu: Các bà đến lớp tặng các cháu bài hát “Đi học” bài hát được sử dụng cả 02 ngôn ngữ tiếng Nùng và tiếng Việt.
  9. 9 - Tiếp theo tôi tổ chức cho trẻ làm quen với một số từ “Pá - bố”; “Mé - mẹ”; “Pỉ báo - anh trai; Pỉ sao- chị gái”. Trẻ nói theo cô Pỉ báo.mp4 - Khi dạy trẻ tôi luôn quan tâm đến cá nhân trẻ, giúp trẻ mạnh dạn khi nói, sửa cho trẻ phát âm đúng từ bằng tiếng dân tộc. - Để củng cố các từ vừa học tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Rung chuông vàng và trò chơi “Nọong yêu ai” Trẻ tham gia trò chơi “Nọong yêu ai”
  10. 10 - Trong trò chơi tôi yêu cầu trẻ đi thành vòng tròn và hát theo lời bài hát tay cầm 1 hình ảnh là người thân trong gia đình (là các hình ảnh cô vừa dạy bố, mẹ, anh trai, chị gái) khi cô nói “Nọong yêu ai” trẻ sẽ cầm tranh và chạy về bức tranh cô đã chuẩn bị. Sau đó tôi đến các bức tranh trẻ chọn và hỏi trẻ Noong yêu ai đấy? Cô nói bằng tiếng Nùng. Trẻ trả lời bằng tiếng Nùng (Pá-bố; mé-mẹ; Pỉ báo-Anh trai; Pỉ sao-chị gái). * Hoạt động âm nhạc, chủ đề gia đình; đề tài: nghe hát “Nòn đắc, nòn đí” - Trong hoạt động âm nhạc đề tài nghe hát “Nòn đắc, nòn đí” (Ngủ ngon, ngủ say) không những trẻ chỉ được thả hồn và cảm thụ giai điệu mượt mà, thiết tha làn điệu hát ru của dân ca Nùng mà trẻ còn được cô dạy nói ngôn ngữ dân tộc Nùng và dạy trẻ nói tên bài hát bằng tiếng dân tộc Nùng “Nòn đắc, nòn đí- Ngủ ngon, ngủ say". - Lời bài hát sử dụng tiếng Nùng, với những câu từ mộc mạc, giàu hình ảnh. Qua đó, trẻ có cơ hội làm quen với ngôn ngữ mẹ đẻ, giúp giữ gìn và phát huy tiếng nói của dân tộc mình. Mà còn là hành trình khám phá cội nguồn, nuôi dưỡng tình yêu đối với bản sắc dân tộc Nùng trong tâm hồn trẻ ngay từ khi lứa tuổi mầm non. * Hoạt động khám phá khoa học Chủ đề bản thân, đề tài: Các bộ phận cơ thể bé - Trẻ cùng cô khám phá về các bộ phận cơ thể như: đầu, tay, chân . Đặc biệt ngoài việc tìm hiểu về tên gọi, tác dụng của từng bộ phận cô lồng ghép dạy trẻ nói tiếng dân tộc Nùng như hỏi trẻ đây là gì? Đầu (tay, chân), cô dạy trẻ biết nói tiếng dân tộc nùng “đầu - đảu; tay - mừ; chân - kha”. Cô cho cả lớp chỉ vào
  11. 11 bộ phận cơ thể mình nói 2-3 lần. Đồng thời cô cho trẻ ôn lại từ đã học “Mắc ha- cái mắt; mắc đăng- cái mũi; pí hu -tai”. Dạy trẻ nói một số bộ phận cơ thể bằng tiếng Nùng c. Lồng ghép trong giờ hoạt động ngoài trời - Khi cho trẻ tham gia hoạt động ngoài trời tôi và trẻ cùng khám phá trải nghiệm tại khu “Không gian văn hóa dân tộc của nhà trường”. - Ở khu vực này trẻ được quan sát một số sản phẩm địa phương, đồ dùng, dụng cụ, trang phục . của một số dân tộc. - Để dạy trẻ và củng cố nói tiếng dân tộc tôi đã cho trẻ quan sát và sử dụng một số từ bằng tiếng dân tộc. Ví dụ: - Bộ trang phục dân tộc Nùng được nói bằng tiếng Nùng là “Nùng bô sử kha cù cần long”. Cô cho trẻ nói theo cô, cùng cô. - Cô dạy trẻ đếm trang phục dân tộc Nùng từ 1 đến 10 “Nơn-1; xoong-2; sam- 3; xí-4; hả-5; húc-6; chít-7; pép-8; cảu-9; síp-10” (Video minh hoạt kèm theo). VIDEO ĐẾM từ 1-10.mp4 - Vậy tôi có thể tận dụng các khoảng không gian mọi lúc, mọi nơi để dạy lồng ghép trẻ nói tiếng Nùng một cách tự nhiên, trẻ không bị gò bó giúp trẻ dễ nhớ và đạt hiệu quả. d. Lồng ghép dạy trẻ trong giờ hoạt động góc
  12. 12 - Khi tham gia hoạt động góc trẻ được nhập vai chơi thể hiện bản thân của mình qua các trò chơi và qua hoạt động góc tôi dạy trẻ để trẻ có thể sử dụng được tiếng dân tộc trong một số góc. Ví dụ: Góc nghệ thuật chủ đề nghề nghiệp - Tôi cho trẻ chơi nặn đồ dùng của nghề nông như: Nặn cái cuốc, nặn con dao, cái liềm. Khi trẻ nặn tôi hỏi trẻ gọi tên các đồ dùng này bằng tiếng dân tộc Nùng là gì? Trẻ sẽ trả lời bằng từ đã học như: “Mạc pạ - con dao; Mạc cúp - cái cuốc; Mạc lìm - cái liềm”. đ. Lồng ghép trong giờ ăn - Trong giờ ăn tôi dạy trẻ nói tiếng dân tộc bằng cách hướng dẫn trẻ cách mời cô giáo và bạn bè dùng bữa. + “Lục mời cú kinh khảu” (Con mời cô ăn cơm). + “Làu mời pàng dạu kinh khảu” (mình mời các bạn ăn cơm). e. Lồng ghép trong giờ hoạt động chiều - Trong giờ hoạt động chiều tôi tổ chức cho trẻ chơi các hoạt động như: Chơi tự do, tham gia trò chơi dân gian, vệ sinh, chơi với sách.... nhằm củng cố và dạy trẻ nói tiếng Nùng. Ví dụ: Trong giờ chơi tự do buổi chiều, cô hướng dẫn trẻ xếp những số đã học bằng các nguyên vật liệu khác nhau. Qua đó cô dạy trẻ nói từ số 1 đến số 3 bằng tiếng Nùng “Só 1- số 1; só 2 - số 2; só 3 - số 3".
  13. 13 Trẻ xếp những chữ số và nói bằng tiếng dân tộc Nùng g. Giờ trả trẻ - Sau khi đã thực hiện một số hoạt động chiều theo chương trình tôi tận dụng khoảng thời gian chờ phụ huynh đến đón trẻ lựa chọn từ phù hợp để dạy trẻ nói tiếng dân tộc Nùng. VIDEO TRẺ CHÀO CÔ ĐI VỀ.mp4 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp - Việc lồng ghép dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng thông qua một số hoạt động hàng ngày, giúp trẻ bắt đầu sử dụng một số từ đơn giản bằng tiếng dân tộc Nùng, trong giao tiếp hàng ngày như chào hỏi, mời ăn hoặc chỉ các bộ phận cơ thể. Các từ ngữ như “Lục chào cú” (Con chào cô) hay “Mắc đăng” (Cái mũi) được trẻ ghi nhớ và sử dụng tự nhiên hơn. Trẻ tự tin hơn khi nói các câu ngắn gọn như: “Lục mời cú kinh khảu” (Con mời cô ăn cơm) hoặc “Lục pay tọoc sư” (Con đi học). - Trẻ hứng thú học tập yêu thích tiếng dân tộc Nùng. - Hiểu biết về nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Nùng, trang phục, dụng cụ truyền thống. Thông qua hoạt động thực tế tại khu vực không gian văn hóa dân tộc, trẻ được trải nghiệm gần gũi với đời sống của đồng bào dân tộc, từ đó thêm yêu mến và tự hào về nguồn cội. - Trẻ phát âm rõ ràng, chính xác hơn các từ bằng tiếng dân tộc Nùng. Kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ mới được cải thiện rõ rệt nhờ sự lặp đi lặp lại trong hoạt động đón trả trẻ, học tập và chơi tự do. Khả năng tư duy ngôn ngữ của trẻ cũng được phát triển qua các trò chơi học tập, giúp trẻ không chỉ nhớ từ vựng mà
  14. 14 còn biết cách ứng dụng vào các tình huống thực tế. Góp phần nuôi dưỡng tình yêu văn hóa và bản sắc dân tộc từ lứa tuổi mầm non. 2.3. Biện pháp 3: Tăng cường công tác tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ 2.3.1. Nội dung biện pháp - Để công tác chăm sóc giáo dục trẻ đặt hiệu quả thì công tác tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Để tổ chức dạy tốt tiếng dân tộc Nùng cho trẻ giáo viên cần có các hình thức, đưa ra các phương pháp chia sẻ, hướng dẫn cha mẹ để phối hợp dạy tiếng dân tộc cho trẻ. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp - Để thực hiện hiệu quả giáo dục tiếng dân tộc cho trẻ tôi tích cực tuyên truyền với nhiều hình thức khác nhau: Tuyên truyền qua trang Zalo của lớp, tuyên truyền qua zalo của trường, trao đổi trực tiếp, thông qua các cuộc họp; mời phụ huynh đến dự trực tiếp hoạt động do giáo viên tổ chức vv Tuyên truyền trên trang Zalo của lớp Giáo viên tuyên truyền trực tiếp với phụ huynh học sinh
  15. 15 Phụ huynh tham dự giáo viên dạy tiếng dân tộc tại lớp 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp - Thông qua các hình thức tuyên truyền tôi thấy phụ huynh lớp tôi rất tích cực trong công tác phối hợp với giáo viên để dạy tiếng dân tộc cho trẻ tại gia đình, đối với phụ huynh biết tiếng dân tộc đã sử dụng tiếng dân tộc trong sinh hoạt hàng ngày (Ví dụ: Dạy trẻ biết mời bố mẹ ăn cơm, biết chào hỏi bằng tiếng dân tộc) (Video minh họa). Video trẻ mời thành viên GĐ bằng tiếng Nùng.mp4 Video trẻ chào ông đi học bằng tiếng Nùng.mp4 * Sau một thời gian áp dụng các biện pháp tôi thu được các kết quả sau: 1. Đối với trẻ - Trẻ rất có ý thức tham gia vào hoạt động, biết sử dụng và nói được các từ đơn giản theo các bài giáo viên đã dạy. Việc sử dụng tiếng dân tộc Nùng của trẻ tốt hơn đặc biệt đối với trẻ là người dân tộc Nùng tại bản Đồng Bông, do trẻ không những được học ở trường mà trẻ còn được cha mẹ, ông bà dạy ở nhà Ngôn ngữ sử dụng tiếng dân tộc của trẻ có kết quả tốt hơn. Kết quả qua việc đánh giá khảo sát khi tôi thực hiện các chủ đề đã học từ đầu năm đến tháng 12/2024 của năm học 2024-2025. - Thông qua một số hoạt động trẻ đã hiểu biết thêm về giá trị văn hóa và một số phong tục tập quán của người dân tộc Nùng.
  16. 16 Sau đây là bảng kết quả khảo sát trẻ trước và sau khi áp dụng biện pháp STT Các nội dung Trước khi áp Sau khi áp dụng biện pháp dụng biện pháp Số trẻ đạt / tỉ lệ Số trẻ đạt / tỉ lệ Trẻ sôi nổi, hào hứng, tích cực 1 tham gia hoạt động làm quen 9/18 = 50% 18/18 = 100% với tiếng dân tộc Nùng Trẻ phát âm đúng một số từ đơn 2 8/18 = 44,4% 17/18 = 94,4% giản của tiếng dân tộc Nùng Trẻ yêu thích một số phong 3 tục, tập quán và bản sắc văn 8/18 = 44,4% 18/18 = 100% hóa của dân tộc Nùng 1.2. Đối với giáo viên - Qua áp dụng các biện pháp và tổ chức dạy thực tế, kết hợp với các bậc phụ huynh tôi thấy kiến thức về ngôn ngữ tiếng Nùng của mình tốt hơn. - Tôi luôn tìm tòi lựa chọn các hình thức, phương pháp, trò chơi đa dạng và sáng tạo nhằm tổ chức các hoạt động đạt hiệu quả cao giúp trẻ phát âm và nói được các từ đơn giản phù hợp với lứa tuổi trong cuộc sống hàng ngày. - Lựa chọn các khoảng thời gian, không gian, tận dụng mọi lúc mọi nơi, lựa chọn các thời điểm phù hợp để dạy tiếng dân tộc Nùng cho trẻ. - Tăng cường công tác tuyên truyền với phụ huynh nhiều hơn để có biện pháp dạy trẻ. * Đối với phụ huynh - Phụ huynh tích cực trong công tác phối hợp với giáo viên để dạy trẻ tại gia đình, đặc biệt những phụ huynh ở thôn Đồng Bông là ông bà rất tích cực dạy các cháu, không những vậy dạy cả bố mẹ trẻ. - Phụ huynh đã dành thời gian nhiều hơn để dạy tiếng dân tộc cho trẻ. - Có những phụ huynh là ông bà thành thạo tiếng dân tộc Nùng đã luôn tích cực hỗ trợ và dạy thêm cho giáo viên chủ nhiệm. * Đối với nhà trường - Phụ huynh của các nhóm, lớp trong trường tích cực hưởng ứng về dạy tiếng dân tộc cho con, đặc biệt là những phụ huynh biết tiếng dân tộc Nùng. - Công tác tuyên truyền của nhà trường được thực hiện sâu rộng hơn với các tin bài được đăng tải trên trang thông tin của nhà trường, của Phòng GD&ĐT Yên Thế; Đài phát thanh và truyền hình Bắc Giang; Đài phát thanh và truyền hình Yên Thế. ( nham-bao-ton-va-phat-trien-tieng-dan-toc-nung.html;
  17. 17 truyen-nham-bao-ton-va-phat-trien-tieng-dan-toc-nung.html PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Tôi đã căn cứ vào các văn bản và tài liệu nghiên cứu sau: 1. Kế hoạch số 80/KH-UBND ngày 01/6/2022 của UBND huyện Yên Thế về việc triển khai Kế hoạch Giai đoạn 2 thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến năm 2025”; Công văn số 339/PGD&ĐT ngày 31/3/2023 của Phòng Giáo dục và Đào tạo Yên Thế về việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ trong các cơ sở GDMN; 2. Kế hoạch số 341/KH-MNTH ngày 23/9/2024 của trường Mầm non Tân Hiệp về kế hoạch giáo dục dân tộc năm học 2024-2025; 3. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình GDMN mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi. 4. Tài liệu tiếng Nùng do Ban dân tộc Huyện Yên Thế biên soạn. * Một số minh chứng kèm theo biện pháp: 1. Video trẻ mời các thành viên trong gia đình ăn cơm. 2. Video trẻ ở nhà chào phụ huynh đi học. 3. Video trẻ đếm trang phục dân tộc nùng từ 1-10. 4. Video trẻ nói tên một số thành viên trong gia đình. 5. Video trẻ chào cô đi về bằng tiếng dân tộc Nùng. 6. Video trẻ giới thiệu về tên bản thân, trường lớp, nơi ở. PHẦN D. CAM KẾT Giáo viên cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; không sử dụng biện pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ về làm quen với tiếng dân tộc Nùng cho trẻ mẫu giáo lớp 4-5 tuổi B1 tại trường mầm non Tân Hiệp là trung thực. Tân Hiệp, ngày 16 tháng 12 năm 2024 GIÁO VIÊN Linh Thị Dung
  18. 18 PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG 1. Đánh giá, nhận xét của tổ chuyên môn . TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN Mã Thị Huệ 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng . . . HIỆU TRƯỞNG Trịnh Thị Lan